20 công thức · Chỉ số tự tính

Thức ăn cho gà, vịt, ngan, ngỗng từ 1 ngày tuổi đến xuất bán

Chọn loài và giai đoạn, mô hình 3D dựng lại tỷ lệ từng nguyên liệu trong bao cám. Toàn bộ chỉ số đạm, năng lượng, canxi và phốt pho do trang tự tính từ bảng thành phần nguyên liệu — đổi tỷ lệ thì chỉ số đổi theo, nên anh chị kiểm tra được ngay công thức của mình.

Khối phối trộn — xem tỷ lệ từng nguyên liệu

Mỗi lớp là một nguyên liệu, chiều dày lớp vẽ theo tỷ lệ phần trăm trong công thức; riêng các phụ gia dưới 1% được vẽ dày tối thiểu để còn nhìn thấy được.

Mỗi mục đích nuôi có nhu cầu khác nhau
Công thức đổi theo tuổi

Cách xem: trên điện thoại, vuốt trong khung để xoay (kể cả lên/xuống); chụm hai ngón để phóng to; muốn cuộn trang thì vuốt ngoài khung mô hình. Trên máy tính: kéo để xoay, giữ Ctrl rồi lăn chuột để phóng, hoặc bấm vào khung rồi dùng phím mũi tên và phím + −.

    Tính lượng nguyên liệu cần mua

    Nhập số con, công cụ tính lượng cám cho cả giai đoạn và khối lượng từng nguyên liệu theo công thức đang chọn ở trên.

    Số con trong đàn
    Đã điền sẵn theo giai đoạn, sửa được
    Cộng thêm vào lượng cần mua
    Khối lượng từng nguyên liệu cần chuẩn bị
    Nguyên liệu Tỷ lệ Khối lượng
    Con số này dùng để làm gì Đây là mức ước lượng để mua nguyên liệu và tính vốn. Lượng ăn thực tế thay đổi theo giống, nhiệt độ chuồng và tình trạng đàn — mùa lạnh gia cầm ăn nhiều hơn, mùa nóng ăn ít đi.

    Nhu cầu dinh dưỡng theo loài và giai đoạn

    Đây là khoảng mục tiêu mà 20 công thức trên trang đều được cân để rơi vào. ME là năng lượng trao đổi, CP là đạm thô.

    Giai đoạn ME CP% Ca% P% Lys% Met%
    Gà thịt CN · 1–10 ngày 2.900–3.050 21–23 0,90–1,05 0,70–0,85 1,25–1,45 0,45–0,60
    Gà thịt CN · 11–24 ngày 3.000–3.160 19–21,5 0,82–0,95 0,65–0,80 1,10–1,25 0,40–0,55
    Gà thịt CN · 25 ngày – xuất 3.080–3.230 17–19,5 0,75–0,90 0,60–0,75 1,00–1,10 0,36–0,50
    Gà thả vườn · 1–4 tuần 2.850–3.000 19–21,5 0,90–1,10 0,70–0,85 1,10–1,30 0,40–0,58
    Gà thả vườn · 5–8 tuần 2.830–2.990 17–19,5 0,80–1,05 0,65–0,80 0,95–1,15 0,36–0,52
    Gà thả vườn · 9 tuần – xuất 2.820–2.980 15–17,5 0,75–1,00 0,60–0,80 0,80–1,00 0,30–0,46
    Gà đẻ · gà con 0–6 tuần 2.800–2.950 18,5–20,5 0,90–1,10 0,70–0,90 1,05–1,25 0,38–0,55
    Gà đẻ · hậu bị 7–17 tuần 2.700–2.850 14,5–17 0,80–1,10 0,65–0,90 0,70–0,90 0,26–0,44
    Gà đẻ · đang đẻ 2.700–2.830 16,5–18,5 3,60–4,30 0,60–0,75 0,85–1,00 0,34–0,50
    Vịt, ngan, ngỗng
    Giai đoạn ME CP% Ca% P% Lys% Met%
    Vịt thịt · 1–14 ngày 2.820–2.960 19,5–22 0,90–1,10 0,70–0,90 1,05–1,25 0,38–0,55
    Vịt thịt · 15–35 ngày 2.900–3.030 17–19,5 0,80–1,05 0,65–0,85 0,95–1,15 0,34–0,50
    Vịt thịt · 36 ngày – xuất 2.980–3.110 15–17,5 0,75–1,00 0,60–0,80 0,85–1,00 0,30–0,46
    Vịt đẻ · hậu bị 2.650–2.820 14–16,5 0,80–1,10 0,65–0,90 0,70–0,90 0,24–0,42
    Vịt đẻ · đang đẻ 2.720–2.860 17–19 2,90–3,60 0,60–0,80 0,90–1,10 0,34–0,50
    Ngan · 1–21 ngày 2.820–2.960 19,5–22 0,90–1,10 0,70–0,90 1,05–1,25 0,38–0,55
    Ngan · 22–56 ngày 2.900–3.030 17–19,5 0,80–1,05 0,65–0,85 0,95–1,15 0,34–0,50
    Ngan · 57 ngày – xuất 2.980–3.110 15–17,5 0,75–1,00 0,60–0,80 0,85–1,00 0,30–0,46
    Ngỗng · úm 1–21 ngày 2.760–2.900 17,5–20 0,90–1,15 0,70–0,95 1,00–1,20 0,34–0,50
    Ngỗng · chăn thả từ tuần 4 2.760–2.920 14–16,5 0,70–1,00 0,60–0,85 0,75–0,95 0,24–0,42
    Ngỗng sinh sản · đang đẻ 2.650–2.800 15–17,5 2,30–3,00 0,60–0,85 0,80–1,00 0,30–0,46
    Ba điều tuyệt đối không làm — mỗi điều đều gây thiệt hại thấy được 1. Không cho gà hậu bị chưa đẻ ăn cám gà đẻ. Canxi 3,6–4,3% ở tuổi chưa đẻ gây tổn thương thận và làm hỏng cả đàn hậu bị.
    2. Không dùng cám gà cho vịt và ngan trong thời gian dài. Thuỷ cầm cần niacin cao hơn gà rõ rệt; thiếu niacin làm chân yếu, khớp sưng, đi khập khiễng và không hồi phục kịp trong một lứa nuôi.
    3. Không dùng ngô, lạc hay bất kỳ nguyên liệu nào bị mốc. Nấm mốc sinh độc tố aflatoxin — thuỷ cầm, nhất là vịt con, thuộc nhóm nhạy cảm nhất.

    Nguyên liệu, thành phần và giới hạn sử dụng

    Đây chính là bảng mà trang dùng để tính chỉ số cho mọi công thức. Giá trị tính theo dạng cho ăn, độ ẩm khoảng 12–14%.

    Thành phần dinh dưỡng và mức dùng tối đa
    Nguyên liệu ME CP% Ca% P% Tối đa Lưu ý
    Ngô vàng 3.350 8,5 0,02 0,28 65% Nền năng lượng chính. Bắt buộc không mốc
    Tấm gạo 3.300 8,0 0,03 0,13 20% Thay một phần ngô khi giá rẻ hơn
    Cám gạo loại 1 2.900 12,5 0,07 1,50 20% Nhiều dầu nên nhanh ôi, gà con nên dưới 10%
    Cám mì 1.950 15,5 0,12 1,15 20% Dùng để hạ năng lượng cho khẩu phần hậu bị
    Khô dầu đậu tương 2.450 46,0 0,29 0,65 35% Nguồn đạm chính, cân đối axit amin tốt
    Bột cá 60% 2.900 60,0 5,00 3,00 8% Mặn sẵn nên phải trừ vào lượng muối. Gà con dưới 5%
    Dầu thực vật 8.800 0 0 0 5% Tăng năng lượng. Quá nhiều làm cám dính, khó trộn đều
    Bột đá (CaCO₃) 0 0 38,0 0 Nguồn canxi. Gà đẻ cần 8–10%, gà thịt chỉ 1%
    DCP 0 0 23,0 18,0 2% Nguồn phốt pho dễ tiêu
    Muối ăn 0 0 0 0 0,5% Vượt 0,5% gây tiêu chảy và ngộ độc
    Premix vitamin–khoáng 0 0 theo nhãn Chọn loại cho thuỷ cầm khi nuôi vịt, ngan, ngỗng
    DL–Methionine 0 58,0 0 0 0,3% Axit amin thường thiếu nhất trong khẩu phần ngô–đậu
    L–Lysine 0 95,0 0 0 0,3% Bổ sung khi giảm khô dầu đậu tương

    Nhận mặt nguyên liệu ngoài thực tế

    Hình bên cạnh mô phỏng dạng hạt và màu đặc trưng của từng loại, kèm dấu hiệu nhận biết hàng đạt khi đi mua. Viền quanh hình là màu lớp tương ứng trong mô hình 3D ở trên.

    • Ngô vàng

      Hạt cứng, vàng cam, mảy đều. Loại đạt phải khô, không có hạt mốc xanh hoặc đen ở phôi; nghiền ra có mùi ngọt nhẹ.

    • Tấm gạo

      Mảnh gạo gãy màu trắng đục, cỡ hạt không đều. Loại bỏ nếu có mùi ẩm mốc hoặc thấy mọt.

    • Cám gạo loại 1

      Bột mịn màu kem ngà, sờ thấy béo tay vì còn dầu. Để quá lâu sẽ có mùi ôi khét — khi đó không nên dùng.

    • Cám mì

      Vảy mỏng màu nâu nhạt, nhẹ và xốp, bóp thấy tơi. Dùng để hạ năng lượng khẩu phần hậu bị.

    • Khô dầu đậu tương

      Mảnh nhỏ màu vàng nâu, khô ráo, mùi đậu rang. Ép chín kỹ thì không còn mùi hăng của đậu sống.

    • Bột cá 60%

      Bột thô màu nâu xám, mùi cá rõ, vị mặn sẵn. Bóp trong tay không vón cục là còn đủ khô.

    • Dầu thực vật

      Chất lỏng trong, vàng nhạt, không cặn. Khi trộn phải rưới thành tia mỏng và đảo ngay để cám không vón.

    • Bột đá

      Bột hoặc hạt mịn màu trắng ngà. Với đàn đang đẻ nên dùng thêm dạng hạt thô để giữ canxi qua đêm.

    • DCP

      Bột hoặc hạt nhỏ màu trắng xám, không mùi. Đây là nguồn phốt pho dễ tiêu, không thay được bằng bột đá.

    • Muối ăn

      Tinh thể trắng. Phải nghiền mịn và trộn qua chất mang; để hạt to thì con nào ăn trúng hạt muối dễ bị ngộ độc.

    • Premix vitamin–khoáng

      Bột nền màu ngà có nhiều hạt màu lấm tấm. Lượng dùng rất nhỏ nên bắt buộc trộn trước với một phần cám rồi mới đổ vào mẻ lớn.

    • DL–Methionine

      Tinh thể vảy màu trắng, tan trong nước. Cân bằng cân tiểu ly — lệch vài gam đã đủ làm sai khẩu phần.

    • L–Lysine

      Hạt bột màu trắng ngà đến vàng nhạt. Dùng để bù lysine khi giảm bớt khô dầu đậu tương.

    Khô dầu lạc — dùng được nhưng phải cẩn thận Khô dầu lạc có đạm 42% và giá thường rẻ hơn khô dầu đậu tương, nhưng là nguyên liệu dễ nhiễm aflatoxin nhất trong nhóm thức ăn gia cầm. Nếu dùng thì giữ dưới 10%, chỉ mua chỗ tin cậy, và không dùng cho gia cầm con hoặc đàn đang đẻ.

    Trộn đúng cách — năm bước

    Công thức đúng mà trộn sai thì con ăn thừa con ăn thiếu. Đây là phần quyết định công thức có phát huy tác dụng hay không.

    1. 1
      Cân đúng, nghiền đúng cỡ

      Cân từng nguyên liệu theo đúng tỷ lệ, không ước lượng bằng ca hay xô.

      • Gia cầm con: nghiền mịn hơn, cỡ hạt khoảng 1–2 mm
      • Gia cầm lớn: cỡ 2–3 mm; nghiền quá mịn làm gia cầm chê ăn và dễ bết mỏ
      • Thuỷ cầm ăn cám ướt dễ hơn cám bột khô, nhưng chỉ trộn nước ngay trước khi cho ăn
    2. 2
      Pha loãng dần premix và axit amin

      Đây là bước quan trọng nhất và cũng là bước hay bị bỏ qua nhất. Premix chỉ chiếm 0,5% khối lượng, đổ thẳng vào đống lớn thì không bao giờ trộn đều.

      • Trộn premix, methionine, lysine và muối với khoảng 5 kg cám gạo hoặc ngô mịn
      • Trộn hỗn hợp đó với 20 kg nguyên liệu, rồi lại trộn tiếp với 100 kg
      • Cuối cùng mới đổ vào toàn bộ mẻ và trộn chung
      • Không có bước này thì có con ăn thừa vitamin, có con không được gì
    3. 3
      Trộn từ nhiều đến ít

      Đổ nguyên liệu chiếm tỷ lệ lớn trước, tỷ lệ nhỏ sau, và luôn đổ vào giữa đống.

      • Thứ tự: ngô → khô dầu đậu tương → cám gạo, cám mì → bột cá → khoáng → hỗn hợp premix đã pha loãng
      • Trộn bằng máy: 3–5 phút mỗi mẻ. Trộn quá lâu làm nguyên liệu nặng lắng xuống đáy
      • Trộn tay: xúc đảo ít nhất 3 lượt, mỗi lượt đảo hết cả đống
    4. 4
      Cho dầu vào sau cùng

      Rưới dầu đều lên mặt đống rồi trộn tiếp, không đổ dồn một chỗ.

      • Dầu đổ dồn tạo cục cám vón, gia cầm ăn phải cục đó sẽ thừa năng lượng đột ngột
      • Cám có dầu nhanh ôi hơn, nên trộn lượng vừa đủ dùng trong 7–10 ngày
    5. 5
      Bảo quản và đổi cám

      Cám tự trộn không có chất chống mốc như cám công nghiệp nên hạn dùng ngắn hơn nhiều.

      • Mùa nóng ẩm: dùng hết trong 7–10 ngày. Mùa mát: tối đa 2 tuần
      • Để trên kệ cách nền 15–20 cm và cách tường, nơi khô ráo thoáng gió
      • Bao đã mở phải buộc kín; kiểm tra mùi trước mỗi lần cho ăn, có mùi mốc hoặc chua là bỏ
      • Đổi từ công thức này sang công thức khác phải chuyển dần trong 3–4 ngày, trộn lẫn theo tỷ lệ tăng dần. Đổi đột ngột gây tiêu chảy và bỏ ăn vài ngày

    Điểm phải làm khác cho từng loài

    Cùng một bảng nguyên liệu nhưng mỗi loài có một điểm riêng, bỏ qua là mất năng suất.

    Gà đẻ — canxi phải có dạng hạt thô

    • Vỏ trứng hình thành chủ yếu về đêm, khi gà đã ngừng ăn. Nếu canxi chỉ ở dạng bột mịn, nó đi qua diều nhanh và hết sạch trước khi tới giai đoạn tạo vỏ
    • Dùng 50–70% lượng bột đá ở dạng hạt thô 2–4 mm, phần còn lại dạng mịn. Hạt thô nằm lại trong mề và nhả canxi từ từ suốt đêm
    • Cho ăn phần canxi hạt vào buổi chiều, khoảng 2–3 giờ trước khi tắt đèn
    • Làm đúng điểm này thì vỏ trứng dày hơn, tỷ lệ trứng vỡ và trứng dập giảm rõ
    • Chuyển sang cám đẻ khi đàn đạt khoảng 2% đẻ hoặc 17–18 tuần tuổi, không sớm hơn
    • Càng về cuối chu kỳ đẻ gà càng hấp thu canxi kém và vỏ trứng càng mỏng: từ khoảng tuần 45 nên đưa canxi khẩu phần lên phía trên của khoảng 3,60–4,30% và tăng tỷ lệ bột đá dạng hạt thô

    Vịt và ngan — niacin và methionine

    • Thuỷ cầm cần niacin cao hơn gà rõ rệt — vịt cần khoảng 55 mg/kg thức ăn so với khoảng 35 mg/kg ở gà; ngan và ngỗng ở mức tương đương vịt. Dùng premix dành cho gà trong thời gian dài sẽ thấy chân yếu, khớp gối sưng, vịt đi khập khiễng rồi nằm một chỗ
    • Luôn chọn premix ghi rõ dùng cho thuỷ cầm, hoặc bổ sung riêng theo hướng dẫn nhà sản xuất
    • Thuỷ cầm cũng nhạy với thiếu methionine — biểu hiện là lông xơ xác, chậm lớn
    • Vịt và ngan ăn cám ướt tốt hơn cám khô, nhưng cám đã trộn nước phải cho ăn hết trong vòng 1–2 giờ, thừa là ôi thiu ngay

    Ngỗng — cỏ thay được một phần cám

    • Ngỗng tiêu hoá xơ tốt hơn hẳn các loài gia cầm khác, cỏ non thay được 30–50% khẩu phần khi bãi chăn đủ tốt
    • Công thức trong trang này cho ngỗng từ tuần 4 là cám bổ sung, không phải khẩu phần duy nhất — dùng kèm chăn thả
    • Ngỗng nuôi nhốt hoàn toàn phải ăn cám nhiều hơn, giá thành đội lên nhanh
    • Giai đoạn vỗ béo trước xuất bán thì tăng cám, giảm phụ thuộc cỏ

    Gà thả vườn — cần sỏi

    • Gà kiếm ăn ngoài vườn nuốt nhiều thức ăn thô như hạt, cỏ, côn trùng
    • Đặt máng sỏi nhỏ cỡ 2–4 mm cho gà tự ăn. Không có sỏi thì mề nghiền kém, thức ăn không tiêu hết và phân sống
    • Lượng cám giảm theo lượng gà kiếm được ngoài vườn, nên theo dõi máng để điều chỉnh
    Nước — chất dinh dưỡng hay bị bỏ quên nhất Gia cầm uống gấp khoảng 2 lần lượng cám ăn vào, thuỷ cầm còn nhiều hơn. Thiếu nước vài giờ trong ngày nóng làm giảm ăn ngay hôm đó và giảm đẻ vài ngày sau. Không có công thức cám nào bù được việc thiếu nước.

    Bảy sai lầm hay gặp khi tự trộn cám

    • Đổ thẳng premix vào đống lớn. Không pha loãng dần thì premix không thể phân bố đều. Đây là lỗi phổ biến nhất và cũng khó phát hiện nhất vì nhìn bên ngoài cám vẫn bình thường.
    • Cho muối quá tay. Nhiều người thêm muối cho gia cầm "ăn ngon" mà quên bột cá đã rất mặn. Vượt 0,5% gây phân ướt và tiêu chảy; vượt xa hơn nữa, nhất là khi đàn thiếu nước uống, có thể gây ngộ độc chết.
    • Dùng ngô cũ để lâu hoặc bị ẩm. Tiết kiệm được ít tiền ngô nhưng mất cả đàn vì aflatoxin. Ngô mốc không rửa hay phơi lại được.
    • Trộn quá nhiều một lần. Trộn cả tấn để dùng dần một tháng, tới tuần thứ ba thì cám đã ôi dầu, vitamin trong premix cũng phân huỷ gần hết.
    • Giữ nguyên một công thức từ đầu đến cuối lứa. Gà con cần đạm cao năng lượng vừa, gà lớn thì ngược lại. Dùng một công thức chung là vừa lãng phí đạm giai đoạn cuối vừa thiếu đạm giai đoạn đầu.
    • Đổi cám đột ngột. Chuyển thẳng từ công thức này sang công thức khác gây tiêu chảy và bỏ ăn, mất vài ngày tăng trọng.
    • Bỏ qua cân, ước lượng bằng xô. Sai số dồn lại làm đạm hoặc canxi lệch xa mục tiêu, mà lệch canxi ở đàn đẻ thì hậu quả thấy ngay trên vỏ trứng.
    Xem thêm trên trang Nhiệt độ úm, mật độ nuôi và phòng bệnh có trong bài kỹ thuật chăn nuôi gia cầm. Lịch tiêm phòng theo ngày nhận giống ở trang lịch vaccine gia cầm. Tính giá thành một lứa nuôi ở trang tính chi phí chăn nuôi.

    Câu hỏi thường gặp

    Tự trộn cám có rẻ hơn mua cám công nghiệp không?
    Thường rẻ hơn khoảng 10–20% nếu mua nguyên liệu số lượng lớn và trộn đúng cách. Nhưng phần tiết kiệm đó sẽ mất sạch nếu trộn không đều, nguyên liệu kém chất lượng hoặc bảo quản sai. Với đàn dưới 200 con, chênh lệch không đủ bù công và rủi ro — nên cân nhắc dùng cám công nghiệp cho giai đoạn con và tự trộn cho giai đoạn lớn.
    Vì sao không được dùng cám gà đẻ cho gà hậu bị?
    Cám gà đẻ có canxi 3,6–4,3%, cao gấp bốn lần nhu cầu của gà hậu bị chưa đẻ. Thận gà hậu bị không thải kịp lượng canxi thừa này, dẫn tới tổn thương thận, lắng đọng urat và chết rải rác. Đàn sống sót cũng vào đẻ kém. Chỉ chuyển sang cám đẻ khi đàn đạt khoảng 2% đẻ hoặc 17–18 tuần tuổi.
    Dùng cám gà nuôi vịt, ngan có được không?
    Dùng tạm vài ngày thì được, dùng dài ngày thì không. Thuỷ cầm cần niacin cao hơn gà rõ rệt; thiếu niacin làm chân yếu, khớp gối sưng, vịt đi khập khiễng rồi nằm một chỗ và gần như không hồi phục kịp trong một lứa nuôi. Nếu buộc phải dùng cám gà thì phải bổ sung premix dành cho thuỷ cầm.
    Trộn premix thế nào cho đều?
    Pha loãng dần theo ba bước. Trộn premix, methionine, lysine và muối với khoảng 5 kg cám gạo hoặc ngô mịn; trộn hỗn hợp đó với 20 kg nguyên liệu; rồi mới trộn với 100 kg và cuối cùng đổ vào toàn bộ mẻ. Đổ thẳng premix vào đống lớn thì dù trộn bao lâu cũng không đều, vì premix chỉ chiếm 0,5% khối lượng.
    Cám tự trộn để được bao lâu?
    Mùa nóng ẩm nên dùng hết trong 7–10 ngày, mùa mát tối đa 2 tuần. Cám tự trộn không có chất chống mốc và chống ôi như cám công nghiệp, lại chứa dầu từ cám gạo nên nhanh ôi. Để trên kệ cách nền 15–20 cm, nơi khô thoáng, và ngửi kiểm tra trước mỗi lần cho ăn.
    Vì sao gà đẻ cần canxi dạng hạt thô?
    Vỏ trứng hình thành chủ yếu về đêm khi gà đã ngừng ăn. Canxi dạng bột mịn đi qua đường tiêu hoá nhanh và hết trước lúc tạo vỏ. Canxi dạng hạt 2–4 mm nằm lại trong mề và nhả từ từ suốt đêm. Nên dùng 50–70% lượng bột đá ở dạng hạt thô và cho ăn vào buổi chiều, khoảng 2–3 giờ trước khi tắt đèn. Làm đúng thì vỏ trứng dày hơn và tỷ lệ trứng vỡ giảm rõ.
    Cỏ thay được bao nhiêu phần cám cho ngỗng?
    Khoảng 30–50% khẩu phần nếu bãi chăn đủ tốt và ngỗng được thả đủ thời gian. Ngỗng tiêu hoá xơ tốt hơn hẳn gà, vịt và ngan. Công thức cho ngỗng từ tuần 4 trên trang này là cám bổ sung dùng kèm chăn thả, không phải khẩu phần duy nhất. Ngỗng nuôi nhốt hoàn toàn phải ăn cám nhiều hơn và giá thành cao hơn đáng kể.
    Cho gia cầm ăn bao nhiêu lần một ngày?
    Gia cầm con 4–6 lần, cho ăn ít một để cám luôn mới và kích thích ăn. Gia cầm lớn 2–3 lần, tập trung vào sáng sớm và chiều mát vì giữa trưa nóng chúng ăn kém. Gà đẻ nên có cữ chiều muộn để lấy canxi cho việc tạo vỏ ban đêm. Máng luôn phải còn cám nhưng không để cám tồn quá lâu trong máng.
    Các chỉ số đạm, năng lượng trên trang này tính thế nào?
    Trang có sẵn bảng thành phần của 13 nguyên liệu phổ biến. Khi anh chị chọn một công thức, trang nhân tỷ lệ từng nguyên liệu với thành phần của nó rồi cộng lại để ra đạm thô, năng lượng trao đổi, canxi, phốt pho, lysine và methionine. Toàn bộ 20 công thức đều đã được cân để các chỉ số rơi vào khoảng nhu cầu ghi trong bảng phía trên.