20 công thức · Chỉ số tự tính
Thức ăn cho gà, vịt, ngan, ngỗng từ 1 ngày tuổi đến xuất bán
Chọn loài và giai đoạn, mô hình 3D dựng lại tỷ lệ từng nguyên liệu trong bao cám. Toàn bộ chỉ số đạm, năng lượng, canxi và phốt pho do trang tự tính từ bảng thành phần nguyên liệu — đổi tỷ lệ thì chỉ số đổi theo, nên anh chị kiểm tra được ngay công thức của mình.
Khối phối trộn — xem tỷ lệ từng nguyên liệu
Mỗi lớp là một nguyên liệu, chiều dày lớp vẽ theo tỷ lệ phần trăm trong công thức; riêng các phụ gia dưới 1% được vẽ dày tối thiểu để còn nhìn thấy được.
Cách xem: trên điện thoại, vuốt trong khung để xoay (kể cả lên/xuống); chụm hai ngón để phóng to; muốn cuộn trang thì vuốt ngoài khung mô hình. Trên máy tính: kéo để xoay, giữ Ctrl rồi lăn chuột để phóng, hoặc bấm vào khung rồi dùng phím mũi tên và phím + −.
Tính lượng nguyên liệu cần mua
Nhập số con, công cụ tính lượng cám cho cả giai đoạn và khối lượng từng nguyên liệu theo công thức đang chọn ở trên.
| Nguyên liệu | Tỷ lệ | Khối lượng |
|---|
Nhu cầu dinh dưỡng theo loài và giai đoạn
Đây là khoảng mục tiêu mà 20 công thức trên trang đều được cân để rơi vào. ME là năng lượng trao đổi, CP là đạm thô.
| Giai đoạn | ME | CP% | Ca% | P% | Lys% | Met% |
|---|---|---|---|---|---|---|
| Gà thịt CN · 1–10 ngày | 2.900–3.050 | 21–23 | 0,90–1,05 | 0,70–0,85 | 1,25–1,45 | 0,45–0,60 |
| Gà thịt CN · 11–24 ngày | 3.000–3.160 | 19–21,5 | 0,82–0,95 | 0,65–0,80 | 1,10–1,25 | 0,40–0,55 |
| Gà thịt CN · 25 ngày – xuất | 3.080–3.230 | 17–19,5 | 0,75–0,90 | 0,60–0,75 | 1,00–1,10 | 0,36–0,50 |
| Gà thả vườn · 1–4 tuần | 2.850–3.000 | 19–21,5 | 0,90–1,10 | 0,70–0,85 | 1,10–1,30 | 0,40–0,58 |
| Gà thả vườn · 5–8 tuần | 2.830–2.990 | 17–19,5 | 0,80–1,05 | 0,65–0,80 | 0,95–1,15 | 0,36–0,52 |
| Gà thả vườn · 9 tuần – xuất | 2.820–2.980 | 15–17,5 | 0,75–1,00 | 0,60–0,80 | 0,80–1,00 | 0,30–0,46 |
| Gà đẻ · gà con 0–6 tuần | 2.800–2.950 | 18,5–20,5 | 0,90–1,10 | 0,70–0,90 | 1,05–1,25 | 0,38–0,55 |
| Gà đẻ · hậu bị 7–17 tuần | 2.700–2.850 | 14,5–17 | 0,80–1,10 | 0,65–0,90 | 0,70–0,90 | 0,26–0,44 |
| Gà đẻ · đang đẻ | 2.700–2.830 | 16,5–18,5 | 3,60–4,30 | 0,60–0,75 | 0,85–1,00 | 0,34–0,50 |
| Giai đoạn | ME | CP% | Ca% | P% | Lys% | Met% |
|---|---|---|---|---|---|---|
| Vịt thịt · 1–14 ngày | 2.820–2.960 | 19,5–22 | 0,90–1,10 | 0,70–0,90 | 1,05–1,25 | 0,38–0,55 |
| Vịt thịt · 15–35 ngày | 2.900–3.030 | 17–19,5 | 0,80–1,05 | 0,65–0,85 | 0,95–1,15 | 0,34–0,50 |
| Vịt thịt · 36 ngày – xuất | 2.980–3.110 | 15–17,5 | 0,75–1,00 | 0,60–0,80 | 0,85–1,00 | 0,30–0,46 |
| Vịt đẻ · hậu bị | 2.650–2.820 | 14–16,5 | 0,80–1,10 | 0,65–0,90 | 0,70–0,90 | 0,24–0,42 |
| Vịt đẻ · đang đẻ | 2.720–2.860 | 17–19 | 2,90–3,60 | 0,60–0,80 | 0,90–1,10 | 0,34–0,50 |
| Ngan · 1–21 ngày | 2.820–2.960 | 19,5–22 | 0,90–1,10 | 0,70–0,90 | 1,05–1,25 | 0,38–0,55 |
| Ngan · 22–56 ngày | 2.900–3.030 | 17–19,5 | 0,80–1,05 | 0,65–0,85 | 0,95–1,15 | 0,34–0,50 |
| Ngan · 57 ngày – xuất | 2.980–3.110 | 15–17,5 | 0,75–1,00 | 0,60–0,80 | 0,85–1,00 | 0,30–0,46 |
| Ngỗng · úm 1–21 ngày | 2.760–2.900 | 17,5–20 | 0,90–1,15 | 0,70–0,95 | 1,00–1,20 | 0,34–0,50 |
| Ngỗng · chăn thả từ tuần 4 | 2.760–2.920 | 14–16,5 | 0,70–1,00 | 0,60–0,85 | 0,75–0,95 | 0,24–0,42 |
| Ngỗng sinh sản · đang đẻ | 2.650–2.800 | 15–17,5 | 2,30–3,00 | 0,60–0,85 | 0,80–1,00 | 0,30–0,46 |
2. Không dùng cám gà cho vịt và ngan trong thời gian dài. Thuỷ cầm cần niacin cao hơn gà rõ rệt; thiếu niacin làm chân yếu, khớp sưng, đi khập khiễng và không hồi phục kịp trong một lứa nuôi.
3. Không dùng ngô, lạc hay bất kỳ nguyên liệu nào bị mốc. Nấm mốc sinh độc tố aflatoxin — thuỷ cầm, nhất là vịt con, thuộc nhóm nhạy cảm nhất.
Nguyên liệu, thành phần và giới hạn sử dụng
Đây chính là bảng mà trang dùng để tính chỉ số cho mọi công thức. Giá trị tính theo dạng cho ăn, độ ẩm khoảng 12–14%.
| Nguyên liệu | ME | CP% | Ca% | P% | Tối đa | Lưu ý |
|---|---|---|---|---|---|---|
| Ngô vàng | 3.350 | 8,5 | 0,02 | 0,28 | 65% | Nền năng lượng chính. Bắt buộc không mốc |
| Tấm gạo | 3.300 | 8,0 | 0,03 | 0,13 | 20% | Thay một phần ngô khi giá rẻ hơn |
| Cám gạo loại 1 | 2.900 | 12,5 | 0,07 | 1,50 | 20% | Nhiều dầu nên nhanh ôi, gà con nên dưới 10% |
| Cám mì | 1.950 | 15,5 | 0,12 | 1,15 | 20% | Dùng để hạ năng lượng cho khẩu phần hậu bị |
| Khô dầu đậu tương | 2.450 | 46,0 | 0,29 | 0,65 | 35% | Nguồn đạm chính, cân đối axit amin tốt |
| Bột cá 60% | 2.900 | 60,0 | 5,00 | 3,00 | 8% | Mặn sẵn nên phải trừ vào lượng muối. Gà con dưới 5% |
| Dầu thực vật | 8.800 | 0 | 0 | 0 | 5% | Tăng năng lượng. Quá nhiều làm cám dính, khó trộn đều |
| Bột đá (CaCO₃) | 0 | 0 | 38,0 | 0 | — | Nguồn canxi. Gà đẻ cần 8–10%, gà thịt chỉ 1% |
| DCP | 0 | 0 | 23,0 | 18,0 | 2% | Nguồn phốt pho dễ tiêu |
| Muối ăn | 0 | 0 | 0 | 0 | 0,5% | Vượt 0,5% gây tiêu chảy và ngộ độc |
| Premix vitamin–khoáng | 0 | 0 | — | — | theo nhãn | Chọn loại cho thuỷ cầm khi nuôi vịt, ngan, ngỗng |
| DL–Methionine | 0 | 58,0 | 0 | 0 | 0,3% | Axit amin thường thiếu nhất trong khẩu phần ngô–đậu |
| L–Lysine | 0 | 95,0 | 0 | 0 | 0,3% | Bổ sung khi giảm khô dầu đậu tương |
Nhận mặt nguyên liệu ngoài thực tế
Hình bên cạnh mô phỏng dạng hạt và màu đặc trưng của từng loại, kèm dấu hiệu nhận biết hàng đạt khi đi mua. Viền quanh hình là màu lớp tương ứng trong mô hình 3D ở trên.
-
Ngô vàng
Hạt cứng, vàng cam, mảy đều. Loại đạt phải khô, không có hạt mốc xanh hoặc đen ở phôi; nghiền ra có mùi ngọt nhẹ.
-
Tấm gạo
Mảnh gạo gãy màu trắng đục, cỡ hạt không đều. Loại bỏ nếu có mùi ẩm mốc hoặc thấy mọt.
-
Cám gạo loại 1
Bột mịn màu kem ngà, sờ thấy béo tay vì còn dầu. Để quá lâu sẽ có mùi ôi khét — khi đó không nên dùng.
-
Cám mì
Vảy mỏng màu nâu nhạt, nhẹ và xốp, bóp thấy tơi. Dùng để hạ năng lượng khẩu phần hậu bị.
-
Khô dầu đậu tương
Mảnh nhỏ màu vàng nâu, khô ráo, mùi đậu rang. Ép chín kỹ thì không còn mùi hăng của đậu sống.
-
Bột cá 60%
Bột thô màu nâu xám, mùi cá rõ, vị mặn sẵn. Bóp trong tay không vón cục là còn đủ khô.
-
Dầu thực vật
Chất lỏng trong, vàng nhạt, không cặn. Khi trộn phải rưới thành tia mỏng và đảo ngay để cám không vón.
-
Bột đá
Bột hoặc hạt mịn màu trắng ngà. Với đàn đang đẻ nên dùng thêm dạng hạt thô để giữ canxi qua đêm.
-
DCP
Bột hoặc hạt nhỏ màu trắng xám, không mùi. Đây là nguồn phốt pho dễ tiêu, không thay được bằng bột đá.
-
Muối ăn
Tinh thể trắng. Phải nghiền mịn và trộn qua chất mang; để hạt to thì con nào ăn trúng hạt muối dễ bị ngộ độc.
-
Premix vitamin–khoáng
Bột nền màu ngà có nhiều hạt màu lấm tấm. Lượng dùng rất nhỏ nên bắt buộc trộn trước với một phần cám rồi mới đổ vào mẻ lớn.
-
DL–Methionine
Tinh thể vảy màu trắng, tan trong nước. Cân bằng cân tiểu ly — lệch vài gam đã đủ làm sai khẩu phần.
-
L–Lysine
Hạt bột màu trắng ngà đến vàng nhạt. Dùng để bù lysine khi giảm bớt khô dầu đậu tương.
Trộn đúng cách — năm bước
Công thức đúng mà trộn sai thì con ăn thừa con ăn thiếu. Đây là phần quyết định công thức có phát huy tác dụng hay không.
- 1
Cân đúng, nghiền đúng cỡ
Cân từng nguyên liệu theo đúng tỷ lệ, không ước lượng bằng ca hay xô.
- Gia cầm con: nghiền mịn hơn, cỡ hạt khoảng 1–2 mm
- Gia cầm lớn: cỡ 2–3 mm; nghiền quá mịn làm gia cầm chê ăn và dễ bết mỏ
- Thuỷ cầm ăn cám ướt dễ hơn cám bột khô, nhưng chỉ trộn nước ngay trước khi cho ăn
- 2
Pha loãng dần premix và axit amin
Đây là bước quan trọng nhất và cũng là bước hay bị bỏ qua nhất. Premix chỉ chiếm 0,5% khối lượng, đổ thẳng vào đống lớn thì không bao giờ trộn đều.
- Trộn premix, methionine, lysine và muối với khoảng 5 kg cám gạo hoặc ngô mịn
- Trộn hỗn hợp đó với 20 kg nguyên liệu, rồi lại trộn tiếp với 100 kg
- Cuối cùng mới đổ vào toàn bộ mẻ và trộn chung
- Không có bước này thì có con ăn thừa vitamin, có con không được gì
- 3
Trộn từ nhiều đến ít
Đổ nguyên liệu chiếm tỷ lệ lớn trước, tỷ lệ nhỏ sau, và luôn đổ vào giữa đống.
- Thứ tự: ngô → khô dầu đậu tương → cám gạo, cám mì → bột cá → khoáng → hỗn hợp premix đã pha loãng
- Trộn bằng máy: 3–5 phút mỗi mẻ. Trộn quá lâu làm nguyên liệu nặng lắng xuống đáy
- Trộn tay: xúc đảo ít nhất 3 lượt, mỗi lượt đảo hết cả đống
- 4
Cho dầu vào sau cùng
Rưới dầu đều lên mặt đống rồi trộn tiếp, không đổ dồn một chỗ.
- Dầu đổ dồn tạo cục cám vón, gia cầm ăn phải cục đó sẽ thừa năng lượng đột ngột
- Cám có dầu nhanh ôi hơn, nên trộn lượng vừa đủ dùng trong 7–10 ngày
- 5
Bảo quản và đổi cám
Cám tự trộn không có chất chống mốc như cám công nghiệp nên hạn dùng ngắn hơn nhiều.
- Mùa nóng ẩm: dùng hết trong 7–10 ngày. Mùa mát: tối đa 2 tuần
- Để trên kệ cách nền 15–20 cm và cách tường, nơi khô ráo thoáng gió
- Bao đã mở phải buộc kín; kiểm tra mùi trước mỗi lần cho ăn, có mùi mốc hoặc chua là bỏ
- Đổi từ công thức này sang công thức khác phải chuyển dần trong 3–4 ngày, trộn lẫn theo tỷ lệ tăng dần. Đổi đột ngột gây tiêu chảy và bỏ ăn vài ngày
Điểm phải làm khác cho từng loài
Cùng một bảng nguyên liệu nhưng mỗi loài có một điểm riêng, bỏ qua là mất năng suất.
Gà đẻ — canxi phải có dạng hạt thô
- Vỏ trứng hình thành chủ yếu về đêm, khi gà đã ngừng ăn. Nếu canxi chỉ ở dạng bột mịn, nó đi qua diều nhanh và hết sạch trước khi tới giai đoạn tạo vỏ
- Dùng 50–70% lượng bột đá ở dạng hạt thô 2–4 mm, phần còn lại dạng mịn. Hạt thô nằm lại trong mề và nhả canxi từ từ suốt đêm
- Cho ăn phần canxi hạt vào buổi chiều, khoảng 2–3 giờ trước khi tắt đèn
- Làm đúng điểm này thì vỏ trứng dày hơn, tỷ lệ trứng vỡ và trứng dập giảm rõ
- Chuyển sang cám đẻ khi đàn đạt khoảng 2% đẻ hoặc 17–18 tuần tuổi, không sớm hơn
- Càng về cuối chu kỳ đẻ gà càng hấp thu canxi kém và vỏ trứng càng mỏng: từ khoảng tuần 45 nên đưa canxi khẩu phần lên phía trên của khoảng 3,60–4,30% và tăng tỷ lệ bột đá dạng hạt thô
Vịt và ngan — niacin và methionine
- Thuỷ cầm cần niacin cao hơn gà rõ rệt — vịt cần khoảng 55 mg/kg thức ăn so với khoảng 35 mg/kg ở gà; ngan và ngỗng ở mức tương đương vịt. Dùng premix dành cho gà trong thời gian dài sẽ thấy chân yếu, khớp gối sưng, vịt đi khập khiễng rồi nằm một chỗ
- Luôn chọn premix ghi rõ dùng cho thuỷ cầm, hoặc bổ sung riêng theo hướng dẫn nhà sản xuất
- Thuỷ cầm cũng nhạy với thiếu methionine — biểu hiện là lông xơ xác, chậm lớn
- Vịt và ngan ăn cám ướt tốt hơn cám khô, nhưng cám đã trộn nước phải cho ăn hết trong vòng 1–2 giờ, thừa là ôi thiu ngay
Ngỗng — cỏ thay được một phần cám
- Ngỗng tiêu hoá xơ tốt hơn hẳn các loài gia cầm khác, cỏ non thay được 30–50% khẩu phần khi bãi chăn đủ tốt
- Công thức trong trang này cho ngỗng từ tuần 4 là cám bổ sung, không phải khẩu phần duy nhất — dùng kèm chăn thả
- Ngỗng nuôi nhốt hoàn toàn phải ăn cám nhiều hơn, giá thành đội lên nhanh
- Giai đoạn vỗ béo trước xuất bán thì tăng cám, giảm phụ thuộc cỏ
Gà thả vườn — cần sỏi
- Gà kiếm ăn ngoài vườn nuốt nhiều thức ăn thô như hạt, cỏ, côn trùng
- Đặt máng sỏi nhỏ cỡ 2–4 mm cho gà tự ăn. Không có sỏi thì mề nghiền kém, thức ăn không tiêu hết và phân sống
- Lượng cám giảm theo lượng gà kiếm được ngoài vườn, nên theo dõi máng để điều chỉnh
Bảy sai lầm hay gặp khi tự trộn cám
- Đổ thẳng premix vào đống lớn. Không pha loãng dần thì premix không thể phân bố đều. Đây là lỗi phổ biến nhất và cũng khó phát hiện nhất vì nhìn bên ngoài cám vẫn bình thường.
- Cho muối quá tay. Nhiều người thêm muối cho gia cầm "ăn ngon" mà quên bột cá đã rất mặn. Vượt 0,5% gây phân ướt và tiêu chảy; vượt xa hơn nữa, nhất là khi đàn thiếu nước uống, có thể gây ngộ độc chết.
- Dùng ngô cũ để lâu hoặc bị ẩm. Tiết kiệm được ít tiền ngô nhưng mất cả đàn vì aflatoxin. Ngô mốc không rửa hay phơi lại được.
- Trộn quá nhiều một lần. Trộn cả tấn để dùng dần một tháng, tới tuần thứ ba thì cám đã ôi dầu, vitamin trong premix cũng phân huỷ gần hết.
- Giữ nguyên một công thức từ đầu đến cuối lứa. Gà con cần đạm cao năng lượng vừa, gà lớn thì ngược lại. Dùng một công thức chung là vừa lãng phí đạm giai đoạn cuối vừa thiếu đạm giai đoạn đầu.
- Đổi cám đột ngột. Chuyển thẳng từ công thức này sang công thức khác gây tiêu chảy và bỏ ăn, mất vài ngày tăng trọng.
- Bỏ qua cân, ước lượng bằng xô. Sai số dồn lại làm đạm hoặc canxi lệch xa mục tiêu, mà lệch canxi ở đàn đẻ thì hậu quả thấy ngay trên vỏ trứng.