Mô hình xoay được · Không cần cài gì
Mô hình 3D chuồng gà và cách dựng đúng kỹ thuật
Kéo để xoay mô hình, tách từng lớp để nhìn rõ nền, tường lửng, khung cột, mái và thiết bị bên trong. Kèm công cụ tính kích thước chuồng theo số con định nuôi và bảy bước dựng theo thứ tự thi công.
Mô hình chuồng nuôi nền
Mô hình minh hoạ chuồng rộng 8 m, dài 12 m, thông gió tự nhiên.
Cách xem: kéo ngang để xoay, chụm hai ngón để phóng to, hai ngón cùng kéo để dời mô hình — vuốt dọc vẫn cuộn trang như bình thường. Trên máy tính: giữ Ctrl rồi lăn chuột để phóng, hoặc bấm vào khung rồi dùng phím mũi tên và phím + −.
Tính kích thước chuồng theo số con
Nhập số con định nuôi một lứa, công cụ tính diện tích cần có và gợi ý kích thước chuồng, số máng ăn, máng uống.
Bảy bước dựng chuồng theo thứ tự
Làm đúng thứ tự thì ít phải đục phá sửa lại, nhất là phần chôn ống thoát nước và điện.
- 1
Chọn vị trí và hướng chuồng
Đặt trục dài của chuồng theo hướng đông – tây, mặt thoáng quay về nam hoặc đông nam. Cách này giúp nắng không rọi thẳng vào lòng chuồng buổi chiều và vẫn đón được gió mát.
- Chọn nền đất cao ráo, thoát nước tốt, không đọng nước mùa mưa
- Cách nhà ở và nguồn nước sinh hoạt ít nhất 20 m — đây là mức khuyến cáo cho chăn nuôi nông hộ; trang trại quy mô vừa và lớn chịu quy định riêng, phải hỏi cơ quan thú y địa phương
- Giữa hai dãy chuồng cách nhau tối thiểu 10 m, tốt hơn là 15–20 m
- Hỏi chính quyền xã về quy định khoảng cách chăn nuôi trước khi làm
- 2
Làm nền và hệ thoát nước
Nền cần làm trước vì phải chôn ống thoát và ống nước uống. Đổ bê tông dày 8–10 cm, đánh dốc 2–3% về phía rãnh thoát để rửa chuồng dễ khô.
- Nền cao hơn mặt sân ngoài 20–30 cm để nước mưa không tràn vào
- Rãnh thoát chạy dọc ngoài chuồng, có hố lắng trước khi ra ngoài
- Chôn sẵn ống cấp nước và ống luồn dây điện trước khi đổ bê tông
- Hộ ít vốn có thể dùng nền đất nện chặt, nhưng khó sát trùng triệt để
- 3
Dựng khung cột chịu lực
Cột bê tông, sắt hộp hoặc gỗ chắc, chôn sâu và có móng. Khoảng cách cột 3–4 m tuỳ vật liệu làm xà và mái.
- Cao từ nền tới mép mái 2,2–2,5 m; tới đỉnh nóc 3,2–4 m
- Cột chôn sâu tối thiểu 50–60 cm, có bê tông chân cột
- Kiểm tra khung thẳng và vuông góc trước khi lợp mái
- 4
Lợp mái
Mái hai dốc thoát nước nhanh và tạo luồng khí nóng thoát lên đỉnh. Độ dốc khoảng 30–40% với mái tôn, tức khoảng 17–22 độ; lợp lá hoặc ngói thì phải dốc hơn.
- Mái phải nhô ra khỏi tường 1–1,5 m để mưa không hắt vào và nắng không rọi thẳng
- Tôn lạnh mát hơn tôn thường; lợp thêm lớp cách nhiệt nếu nuôi mật độ cao
- Chừa khe thông gió ở đỉnh nóc để khí nóng và khí độc thoát ra
- 5
Xây tường lửng, quây lưới và lắp bạt
Tường lửng cao 40–60 cm giữ chất độn và chắn gió lùa ngang thân gà. Phần trên quây lưới để thoáng, bên ngoài lắp bạt cuốn được.
- Lưới B40 hoặc lưới thép mắt nhỏ, chôn chân lưới để chuột và rắn không chui vào
- Bạt cuốn từ dưới lên, buộc dây kéo để hạ nhanh khi mưa tạt hoặc trở lạnh
- Mùa nóng mở hết cho thoáng, mùa lạnh và ban đêm hạ bạt che gió lùa
- 6
Lắp thiết bị bên trong
Máng ăn, máng uống, đèn chiếu sáng, chụp sưởi cho khu úm. Bố trí đều để con nào cũng tiếp cận được, không phải chen lấn.
- Máng ăn và máng uống đặt xen kẽ, không con nào phải đi quá 3 m để tới nơi ăn uống
- Điều chỉnh độ cao máng ngang lưng gà, nâng dần theo tuổi để bớt rơi vãi
- Quây úm đặt ở một đầu chuồng, nơi kín gió nhất
- Bóng chiếu sáng treo cách nền 2–2,2 m, các bóng cách nhau 3–4 m để sáng đều, không có góc tối làm gà dồn đống
- 7
Sát trùng và để trống chuồng
Chuồng mới cũng phải sát trùng trước khi thả giống, chuồng cũ càng phải làm kỹ.
- Dọn hết chất độn cũ đem xa chuồng, quét mạng nhện, rửa sạch nền và tường, để khô hẳn rồi mới phun sát trùng theo đúng liều ghi trên nhãn
- Rắc vôi bột nền và chân tường sau khi phun, để khô rồi mới rải chất độn mới
- Để trống chuồng 14–21 ngày giữa hai lứa. Dưới 14 ngày thì mầm bệnh của lứa trước chưa chết hết, đây là một trong những nguyên nhân hay gặp nhất khiến lứa sau nuôi kém hơn lứa trước
- Làm hố sát trùng trước cửa, rộng bằng lối đi, thay thuốc định kỳ
- Rải trấu rồi bật sưởi trước khi nhận gà 12–24 giờ để nền và không khí đủ ấm sẵn
Thông số tham khảo
Đây cũng là bộ số liệu mà công cụ tính ở trên đang dùng.
| Kiểu nuôi | Mật độ trong chuồng | Sân chơi | Ghi chú |
|---|---|---|---|
| Gà thịt công nghiệp | 8 – 10 con/m² | không bắt buộc | Mật độ cao cần quạt thông gió và chất độn tốt |
| Gà ta, gà thả vườn | 5 – 7 con/m² | 1 – 2 m²/con | Nuôi dài ngày, cần chỗ vận động |
| Gà đẻ nuôi nền | 4 – 5 con/m² | tuỳ mô hình | Cần thêm ổ đẻ, khoảng 1 ổ cho 4 – 5 mái |
| Hạng mục | Mức tham khảo | Lý do |
|---|---|---|
| Chiều rộng chuồng | 6 – 9 m | Rộng hơn thì gió tự nhiên không xuyên hết, phải dùng quạt |
| Cao tới mép mái | 2,2 – 2,5 m | Đủ cho người đi lại và thao tác |
| Cao tới đỉnh nóc | 3,2 – 4 m | Tạo khoảng cho khí nóng bốc lên và thoát ra |
| Mái nhô ra khỏi tường | 1 – 1,5 m | Chắn mưa hắt và nắng xiên vào lòng chuồng |
| Độ dốc mái tôn | 30 – 40% (khoảng 17 – 22°) | Thoát nước nhanh, ít dột ở mối nối |
| Tường lửng | cao 40 – 60 cm | Giữ chất độn, chắn gió lùa ngang thân gà |
| Nền bê tông | dày 8 – 10 cm, dốc 2 – 3% | Chịu lực, rửa xong mau khô, sát trùng triệt để |
| Nền cao hơn sân ngoài | 20 – 30 cm | Nước mưa không tràn vào chuồng |
| Khoảng cách hai dãy chuồng | tối thiểu 10 m | Giảm lây bệnh chéo, thoáng khí |
| Lớp trấu lót nền | dày 8 – 10 cm | Giữ ấm, hút ẩm; mỏng quá thì gà lạnh chân |
| Trấu theo mùa | mùa nóng 5 – 8 cm, mùa lạnh 10 – 15 cm | Mùa lạnh cần dày để giữ nhiệt, mùa nóng dày quá lại hầm |
| Khoảng cách bóng chiếu sáng | 3 – 4 m, treo cao 2 – 2,2 m | Sáng đều, không để góc tối làm gà dồn đống |
| Thiết bị | Định mức | Ghi chú |
|---|---|---|
| Máng ăn tròn | 1 cái / 30 – 40 con | Loại treo, nâng dần theo tuổi gà |
| Máng ăn dài | 5 cm chiều dài / con (gà con 2,5 – 3 cm) | Tính cả hai bên máng |
| Khay ăn gà con | 1 khay / 80 – 100 con | Dùng tuần đầu, sau đó chuyển dần sang máng treo |
| Máng uống tròn | 1 cái / 60 – 80 con | Rửa hằng ngày |
| Máng uống gà con (loại 4 lít) | 1 cái / 50 – 60 con | Tuần đầu đặt sát quây úm, kê cao ngang lưng gà |
| Núm uống tự động | 1 núm / 10 – 12 con | Kiểm tra áp lực nước mỗi ngày |
| Chụp sưởi úm (loại chụp lớn) | 1 chụp / 200 – 250 con | Điều chỉnh theo nhiệt độ thực tế, không theo lịch cố định |
| Ổ đẻ | 1 ổ / 4 – 5 mái | Chỉ dùng cho đàn gà đẻ. Lót trấu sạch, đặt nơi tối và kín gió, nhặt trứng sớm buổi sáng |
| Bóng hồng ngoại 250 W | 1 bóng / 60 – 100 con | Loại nông hộ hay dùng. Đừng lấy định mức của chụp lớn áp cho bóng úm, thiếu nhiệt là gà chụm đống và chết bẹp |
Thông gió, làm mát và ánh sáng
Chuồng dựng đúng kích thước nhưng bí khí hoặc chiếu sáng sai vẫn cho năng suất thấp. Ba phần này quyết định phần lớn chênh lệch giữa hai đàn nuôi cùng giống, cùng cám.
Thông gió
Chuồng hở dựa vào gió tự nhiên chỉ thông thoáng tốt khi bề ngang không quá 9 m và hai bên mở được bạt. Khí độc trong chuồng đến từ phân và chất độn ẩm: khí ammoniac nhẹ hơn không khí nên thoát lên khe nóc, còn khí carbonic nặng hơn nên đọng sát nền — đúng tầm mũi gà con nằm.
- Bước vào chuồng buổi sáng sớm mà thấy cay mắt, khai nồng là khí ammoniac đã vượt ngưỡng an toàn. Mức khuyến cáo là dưới 20 ppm, nhưng người nuôi thường phát hiện được bằng mũi trước khi có máy đo
- Chất độn ướt là nguồn sinh khí độc chính. Thay ngay chỗ ướt quanh máng uống, đừng đợi dọn cả nền
- Mùa nóng cần gió lùa qua đàn để gà thải nhiệt. Chuồng hở thường dùng quạt đảo treo, chuồng kín dùng quạt hút đầu hồi kèm giàn mát
- Gà há mỏ thở, giang cánh, tụ ở mép chuồng là dấu hiệu nóng và bí; gà chụm đống một chỗ là lạnh hoặc có gió lùa thẳng
Làm mát mùa nóng
- Cách nhiệt mái là biện pháp đáng tiền nhất: tôn lạnh, hoặc lót thêm lớp cách nhiệt dưới mái tôn thường
- Phun sương lên mái làm mát hiệu quả hơn phun thẳng vào đàn. Phun vào đàn khi độ ẩm đã cao chỉ làm chuồng thêm hầm, gà càng khó thải nhiệt
- Trồng cây che phía tây chắn nắng chiều, nhưng để cách chuồng đủ xa cho gió còn lùa được
- Ngày nắng gắt nên giảm mật độ khoảng 10–15% so với mức tính, hoặc xuất sớm hơn
- Cho ăn dồn vào sáng sớm và chiều mát, giữa trưa để nước mát và đủ máng
Ánh sáng
Với gà thịt, ánh sáng đủ để gà tìm được máng ăn máng uống, nhưng vẫn phải chừa khoảng tối cho gà nghỉ. Với gà đẻ, thời gian chiếu sáng là yếu tố điều khiển sản lượng trứng, không phải chuyện phụ.
| Giai đoạn | Thời gian sáng | Lưu ý |
|---|---|---|
| Gà con 1 – 3 ngày tuổi | 22 – 23 giờ/ngày | Sáng rõ để gà con tìm được máng, tập ăn tập uống |
| Gà thịt sau tuần đầu | 16 – 18 giờ/ngày | Chừa tối liên tục 4 – 6 giờ cho gà nghỉ, giảm đột tử và yếu chân |
| Gà hậu bị (chưa đẻ) | giữ ổn định, không tăng sớm | Tăng sáng sớm quá thì gà đẻ non, trứng nhỏ, đàn nhanh xuống sức |
| Gà đẻ | 14 – 16 giờ/ngày | Chỉ tăng dần, tuyệt đối không rút ngắn giữa kỳ đẻ — cắt sáng là tụt trứng thấy rõ |
Năm lỗi dựng chuồng làm giảm năng suất
Những lỗi này khó sửa sau khi chuồng đã xây xong, nên đáng cân nhắc kỹ từ đầu.
- Làm chuồng quá rộng bề ngang. Trên 9–10 m thì gió tự nhiên không xuyên hết, giữa chuồng luôn bí. Muốn nuôi nhiều thì kéo dài chuồng hoặc làm thêm dãy.
- Nền không dốc hoặc dốc ngược. Rửa xong nước đọng lại, nền ẩm quanh năm, chất độn mau hỏng và khí ammoniac bốc lên liên tục.
- Mái nhô ra quá ngắn. Dưới 1 m thì mưa tạt vào ướt chất độn sát tường, nắng chiều rọi thẳng vào lòng chuồng.
- Không chôn chân lưới. Chuột và rắn đào vào ăn cám, cắn gà con và mang mầm bệnh từ chuồng khác sang.
- Không chừa lối làm việc và chỗ chứa cám. Vác cám đi xuyên qua đàn mỗi ngày làm gà hoảng, ăn kém, và người ra vào nhiều lần cũng là đường đưa mầm bệnh vào.