Kỹ thuật chăn nuôi gà, ngan, vịt, ngỗng
từ úm đến ngày xuất bán
Toàn bộ quy trình một lứa nuôi: nhiệt độ và mật độ úm theo từng tuần, khẩu phần và cách cho ăn từng giai đoạn, khung lịch vaccine, quy trình an toàn sinh học, cách nhận biết 23 bệnh và rối loạn thường gặp cùng hướng phòng và xử lý. Nội dung biên soạn theo kinh nghiệm thực tế của trại và tài liệu kỹ thuật phổ biến, trình bày để người nuôi tra cứu nhanh ngay tại chuồng.
Chọn đối tượng nuôi để lọc nội dung
Nội dung dùng chung cho cả bốn đối tượng luôn hiển thị; phần riêng của từng loài được đánh dấu bằng nhãn màu vàng và chỉ hiện khi chọn đúng loài đó.
Số liệu cốt lõi cần nhớ
Mười con số được hỏi nhiều nhất, tập hợp ở đây để tra nhanh ngay tại chuồng. Chi tiết và điều kiện áp dụng nằm trong từng mục bên dưới.
| Chỉ tiêu | Mức tham khảo | Áp dụng cho |
|---|---|---|
| Nhiệt độ úm 3 ngày đầu | 33 – 35°C với gà và ngan, 32 – 34°C với vịt và ngỗng, đo ngang lưng con non | Gà, ngan, vịt, ngỗng |
| Tốc độ giảm nhiệt | 2 – 3°C mỗi tuần cho tới khi bằng nhiệt độ chuồng nuôi | Gà, ngan, vịt, ngỗng |
| Độ ẩm chuồng úm | 60 – 70% tuần đầu, sau đó 55 – 65% | Gà, ngan, vịt, ngỗng |
| Mật độ quây úm tuần 1 | 40 – 50 con/m² với gà; 25 – 30 con/m² với ngan và vịt; 15 – 20 con/m² với ngỗng | Gà, ngan, vịt, ngỗng |
| Ánh sáng 3 ngày đầu | 22 – 23 giờ mỗi ngày, sau đó giảm dần theo dòng giống | Gà, ngan, vịt, ngỗng |
| Cho ăn sau khi thả giống | Cho uống nước trước 2 – 3 giờ rồi mới rải thức ăn | Gà, ngan, vịt, ngỗng |
| Kiểm tra diều | Sau 8 – 12 giờ, bắt 20 – 30 con: diều căng mềm là đạt | Gà, ngan, vịt, ngỗng |
| Tỷ lệ nước trên cám | Khoảng 1,8 – 2 lần theo khối lượng, trời nóng tăng lên 3 – 4 lần | Gà, ngan, vịt, ngỗng |
| Thời gian trống chuồng | Tối thiểu 14 ngày; từ 21 ngày trở lên nếu lứa trước có dịch | Gà, ngan, vịt, ngỗng |
| Chuyển cám | Trộn tăng dần trong 3 – 5 ngày, không trùng với ngày làm vaccine | Gà, ngan, vịt, ngỗng |
Vòng đời một lứa nuôi và các mốc kỹ thuật
Bốn giai đoạn của một lứa nuôi thịt. Mỗi giai đoạn có mục tiêu riêng; làm sai ở giai đoạn trước thì giai đoạn sau không bù lại được.
Mục tiêu giai đoạn úm
Đạt tỷ lệ sống cao và độ đồng đều đàn. Cân mẫu cuối tuần 1: khối lượng nên gấp khoảng 4 lần lúc mới nở với gà thịt, và đàn đồng đều thì cả lứa mới đều.
Mục tiêu giai đoạn phát triển
Tăng trọng ổn định với hệ số chuyển hóa thức ăn tốt nhất. Đây là giai đoạn ăn nhiều nhất nên mọi thất thoát cám đều thành tiền.
Mục tiêu vỗ béo
Đạt khối lượng và chất lượng thịt theo yêu cầu thương lái, đồng thời tuân thủ thời gian ngừng thuốc trước khi bán.
Chuẩn bị chuồng trước khi vào giống
Việc chuẩn bị bắt đầu từ ngay sau khi bán lứa trước. Chuồng trống đủ ngày là biện pháp cắt vòng bệnh rẻ tiền nhất mà nhiều trại bỏ qua vì tiếc thời gian.
Quy trình 7 bước
- Dọn sạch cơ học. Đưa hết phân, đệm lót cũ, thức ăn thừa ra khỏi khu chuồng. Không để đống phân cạnh chuồng vì ruồi và chuột sẽ mang mầm bệnh quay lại.
- Rửa và cọ. Ngâm nước có chất tẩy rồi cọ trần, tường, nền, quạt, máng ăn, máng uống. Chất hữu cơ còn bám thì thuốc sát trùng gần như mất tác dụng.
- Để khô hoàn toàn trước khi phun sát trùng.
- Phun sát trùng lần 1 toàn bộ nền, tường, trần và khu vực xung quanh chuồng bán kính vài mét.
- Để trống chuồng. Tối thiểu 14 ngày; nếu lứa trước có dịch thì kéo dài 21 ngày trở lên.
- Vào đệm lót mới và lắp thiết bị, sau đó phun sát trùng lần 2 rồi đóng kín chuồng.
- Bật sưởi trước khi nhận giống. Mùa hè bật trước 4–6 giờ, mùa đông 12–24 giờ để nền chuồng ấm chứ không chỉ ấm không khí.
Đệm lót
| Đối tượng | Độ dày trấu | Lưu ý |
|---|---|---|
| Gà | 8 – 10 cm | Đảo mặt đệm khi thấy đóng bánh, nhất là quanh máng uống. Đệm ẩm là nguyên nhân hàng đầu của bệnh hô hấp và viêm da chân. |
| Ngan, vịt | 10 – 15 cm | Thủy cầm thải nước nhiều nên đệm ẩm nhanh hơn gà. Bổ sung trấu khô hằng tuần, ưu tiên nuôi khô trên đệm lót dày kết hợp men vi sinh. |
Giai đoạn úm: 21 ngày quyết định cả lứa
Con non chưa tự điều hòa được thân nhiệt trong 10–14 ngày đầu nên phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn nhiệt do người nuôi cung cấp. Sai lệch nhiệt độ ở tuần đầu để lại hậu quả trên hệ số chuyển hóa thức ăn và độ đồng đều đến tận ngày xuất bán.
Con non nằm rải đều quanh nguồn nhiệt là dấu hiệu nhiệt độ đạt
Chọn con giống 1 ngày tuổi
Chất lượng con giống quyết định phần lớn kết quả lứa nuôi và không thể bù đắp bằng thức ăn hay thuốc ở giai đoạn sau. Khi nhận giống, bắt ngẫu nhiên vài chục con để kiểm tra.
Dấu hiệu con giống đạt
Nhanh nhẹn, đứng vững, mắt sáng và tròn. Lông khô, bông và sạch. Rốn khô, khép kín, không hở và không có mùi. Bụng mềm vừa phải. Chân bóng, không khô teo, ngón thẳng. Khối lượng đồng đều giữa các con.
Dấu hiệu cần loại
Ủ rũ, đứng không vững, mắt lim dim. Rốn hở hoặc ướt, còn dính vỏ trứng. Bụng trướng cứng do túi lòng đỏ không tiêu. Chân khô teo hoặc vẹo ngón. Thở khò khè, chảy nước mũi hoặc nước mắt.
Hỏi rõ khi nhận giống
Đàn bố mẹ đã tiêm phòng những bệnh gì, con giống đã được làm vaccine Marek tại lò chưa, ngày nở và thời gian vận chuyển. Ba thông tin này quyết định lịch vaccine sẽ làm cho đàn.
Nhiệt độ và độ ẩm úm theo tuần tuổi
Nhiệt độ đo ngang lưng con non, không đo ở độ cao ngang người. Bảng dưới là khoảng khởi điểm; quan sát đàn mới là căn cứ cuối cùng để tăng hay giảm nhiệt.
| Tuần tuổi | Gà | Ngan | Vịt | Ngỗng | Mật độ trong quây úm |
|---|---|---|---|---|---|
| Ngày 1 – 3 | 33 – 35°C | 33 – 35°C | 32 – 34°C | 32 – 34°C | Gà 40–50 con/m²; ngan, vịt 25–30 con/m²; ngỗng 15–20 con/m² |
| Ngày 4 – 7 | 32 – 34°C | 32 – 33°C | 30 – 32°C | 30 – 32°C | Nới quây lần đầu khi đàn bắt đầu chen chúc |
| Tuần 2 | 29 – 31°C | 29 – 31°C | 28 – 30°C | 28 – 30°C | Gà 25–30 con/m²; ngan, vịt 15–20 con/m²; ngỗng 8–10 con/m² |
| Tuần 3 | 27 – 29°C | 26 – 28°C | 24 – 26°C | 25 – 27°C | Gà 15–20 con/m²; ngan, vịt 10–12 con/m²; ngỗng 5–6 con/m² |
| Tuần 4 | 24 – 26°C | 23 – 25°C | 22 – 24°C | 20 – 22°C | Bỏ quây, chuyển sang mật độ nuôi của chuồng |
| Tuần 5 trở đi | 21 – 24°C | 20 – 23°C | 20 – 22°C | Nhiệt độ chuồng | Theo mật độ nuôi thịt của từng đối tượng; ngỗng chịu lạnh tốt nên bỏ sưởi sớm hơn |
Độ ẩm chuồng úm
Độ ẩm ít được để ý nhưng ảnh hưởng trực tiếp tới hô hấp và đệm lót. Nên có ẩm kế treo ngang tầm đàn, đọc cùng lúc với nhiệt độ.
| Tuần tuổi | Độ ẩm | Hậu quả khi lệch |
|---|---|---|
| Tuần 1 | 60 – 70% | Dưới 40% làm bụi nhiều, con non mất nước và khô niêm mạc đường hô hấp; trên 75% làm đệm lót ẩm ngay từ tuần đầu |
| Tuần 2 – 3 | 60 – 65% | Ẩm cao kết hợp nền ướt là điều kiện cho cầu trùng và vi khuẩn phát triển |
| Tuần 4 trở đi | 55 – 65% | Ẩm cao kèm thông thoáng kém làm khí NH₃ tăng nhanh, gây bệnh hô hấp và viêm da chân |
Chương trình ánh sáng
Ánh sáng điều khiển thời gian ăn và nhịp sinh học của đàn. Chiếu sáng liên tục cả lứa không làm đàn lớn nhanh hơn mà gây stress, què chân và tăng loại thải.
| Giai đoạn | Thời gian chiếu sáng | Cường độ | Mục đích |
|---|---|---|---|
| Ngày 1 – 3 | 22 – 23 giờ, tối 1 – 2 giờ | 30 – 40 lux | Giúp đàn tìm được máng ăn và máng uống |
| Ngày 4 – 7 | Giảm dần về 20 giờ | 20 – 30 lux | Bắt đầu tập nhịp ngày đêm |
| Tuần 2 đến trước xuất bán | 18 giờ, tối liên tục 6 giờ | 10 – 15 lux | Đàn được nghỉ đủ, giảm què chân và stress |
| 3 ngày cuối | Tăng lại 22 – 23 giờ | 20 lux | Tăng lượng ăn trước khi bắt bán |
Đọc hành vi đàn để chỉnh nhiệt
Nhiệt kế cho biết con số, nhưng đàn mới cho biết con số đó có phù hợp hay không. Nhìn đàn lúc yên tĩnh, tốt nhất là ban đêm khi không có người đi lại.
| Đàn nằm thế nào | Nghĩa là | Xử lý |
|---|---|---|
| Túm tụm sát dưới chụp sưởi, kêu nhiều | Thiếu nhiệt | Hạ chụp sưởi xuống hoặc tăng công suất, chắn gió lùa quanh quây, kiểm tra nền chuồng có bị lạnh từ dưới lên không |
| Tản ra sát mép quây, nằm há mỏ thở, cánh xòe | Thừa nhiệt | Nâng chụp sưởi, giảm công suất, tăng thông thoáng nhưng tránh thổi thẳng vào đàn |
| Dạt hết về một phía | Gió lùa hoặc chênh nhiệt giữa hai phía | Tìm khe hở ở tường, cửa, mái; che chắn phía có gió |
| Phân bố đều, một số ăn uống, một số nằm nghỉ, tiếng kêu nhẹ | Nhiệt độ đạt | Giữ nguyên và tiếp tục theo dõi |
Nhận giống và 3 ngày đầu
- Cho uống trước, cho ăn sau. Thả con giống vào quây, để đàn uống nước khoảng 2–3 giờ rồi mới rải thức ăn. Con non vận chuyển xa thường mất nước nhiều hơn là đói.
- Nước uống ấm 20–25°C trong tuần đầu. Nước quá lạnh làm đàn giảm uống và dễ tiêu chảy.
- Bổ sung điện giải và vitamin theo hướng dẫn trên bao bì trong 3 ngày đầu, nhất là khi vận chuyển xa hoặc thời tiết bất lợi.
- Rải thức ăn trên khay hoặc giấy lót để con non dễ tìm thấy. Cho ăn ít một, nhiều lần trong ngày để thức ăn luôn mới.
- Kiểm tra diều sau 8–12 giờ. Bắt ngẫu nhiên 20–30 con: diều căng mềm là đã ăn uống được; diều cứng và khô là thiếu nước; diều lép là chưa tìm được thức ăn, cần thêm khay và tăng ánh sáng.
- Ánh sáng 22–23 giờ mỗi ngày trong 3 ngày đầu để đàn tìm được máng ăn máng uống, sau đó giảm dần theo khuyến cáo của dòng giống.
Máng ăn, máng uống trong giai đoạn úm
| Dụng cụ | Gà | Ngan, vịt |
|---|---|---|
| Khay ăn tuần đầu | 1 khay cho 80 – 100 con | 1 khay cho 60 – 80 con |
| Máng ăn sau tuần 2 | 1 máng tròn cho 40 – 50 con | Máng dài, 3 – 4 cm chiều dài cho mỗi con |
| Máng uống | 1 máng tròn cho 60 – 80 con, hoặc 1 núm uống cho 8 – 12 con | Máng dài 2 – 3 cm cho mỗi con, đủ sâu để nhúng được cả mỏ |
| Vị trí đặt | Xen kẽ máng ăn và máng uống quanh vùng ấm, không con nào phải đi quá 2 mét để tới được nước | |
Giai đoạn phát triển
Từ khi bỏ quây úm đến trước giai đoạn vỗ béo. Đàn ăn nhiều nhất ở giai đoạn này nên mọi thất thoát thức ăn đều quy ra tiền rất nhanh.
Mật độ nuôi
Mật độ dày làm xấu hệ số chuyển hóa thức ăn, tăng loại thải khi bắt và tăng rủi ro bệnh. Phần lợi nhuận tưởng là có thêm do nuôi nhiều con thường bị xóa sạch bởi ba khoản đó.
| Đối tượng | Con trên m² | kg hơi trên m² | Ghi chú |
|---|---|---|---|
| Gà thịt công nghiệp | 8 – 10 | 30 – 36 | Chuồng kín có quạt thì được ở mức cao của khoảng; chuồng hở nên giảm 15–20% vào mùa nóng |
| Gà lông màu | 7 – 9 | 20 – 24 | Nuôi dài ngày nên cần rộng hơn gà trắng cùng khối lượng |
| Gà ta thả vườn | 5 – 7 | 12 – 14 | Cộng thêm sân chơi 1–2 m² mỗi con; sân chơi nên có bóng mát và thoát nước tốt |
| Ngan | 4 – 5 | 18 – 20 | Ngan trống lớn hơn ngan mái rõ rệt, nên tách đàn theo giới tính để đồng đều |
| Vịt siêu thịt | 6 – 7 | 20 – 22 | Cần khu vực uống nước riêng, thoát nước tốt để giữ đệm lót khô |
| Vịt cỏ | 7 – 9 | 16 – 18 | Nếu có chăn thả thì mật độ trong chuồng chỉ tính cho thời gian nhốt |
| Ngỗng thịt | 2 – 3 | 11 – 13 | Cần thêm bãi chăn 20–30 m² mỗi con nếu nuôi theo hướng tận dụng cỏ; ngỗng cần nhiều diện tích hơn hẳn các loài còn lại |
Cân mẫu và theo dõi khối lượng
Đây là việc phân biệt trại quản lý được đàn với trại chỉ cho ăn rồi chờ. Không cân mẫu thì tới ngày bắt bán mới biết đàn không đạt, lúc đó không sửa được nữa.
- Cân mỗi tuần một lần, vào cùng giờ và cùng ngày trong tuần, tốt nhất là buổi sáng trước khi cho ăn.
- Bắt ngẫu nhiên 5% đàn, tối thiểu 50 con, ở ba vị trí khác nhau trong chuồng. Dồn một góc rồi bắt con ngoài cùng sẽ cho số liệu sai vì đó thường là con khỏe nhất.
- Ghi lại khối lượng trung bình và so với bảng dưới hoặc tài liệu của dòng giống đang nuôi.
- Đánh giá độ đồng đều: đếm số con nằm trong khoảng ±10% quanh khối lượng trung bình. Trên 80% là đàn đồng đều tốt, dưới 70% là đàn phân hóa mạnh, cần soát lại mật độ máng ăn máng uống và tình trạng bệnh.
| Tuần tuổi | Gà thịt CN | Vịt siêu thịt | Ngan Pháp | Ngỗng |
|---|---|---|---|---|
| Tuần 1 | 170 – 190 | 180 – 210 | 130 – 160 | 300 – 380 |
| Tuần 2 | 430 – 480 | 600 – 700 | 380 – 450 | 700 – 850 |
| Tuần 3 | 850 – 950 | 1.200 – 1.400 | 750 – 900 | 1.200 – 1.400 |
| Tuần 4 | 1.350 – 1.500 | 1.900 – 2.100 | 1.200 – 1.400 | 1.600 – 1.900 |
| Tuần 6 | 2.450 – 2.700 | 2.900 – 3.200 | 2.200 – 2.600 | 2.600 – 3.000 |
| Tuần 8 | — | — | 3.000 – 3.600 | 3.200 – 3.700 |
| Tuần 12 – 15 | — | — | Trống 4.500 – 5.000 | 4.200 – 5.000 |
Thông thoáng và khí chuồng
Mục tiêu của thông thoáng là đưa khí độc và hơi ẩm ra ngoài, không phải làm mát bằng mọi giá. Người bước vào chuồng buổi sáng sớm khi chuồng vừa mở là lúc cảm nhận rõ nhất chất lượng không khí.
Dấu hiệu khí NH₃ cao
Cay mắt và mũi khi vừa bước vào chuồng, đàn chảy nước mắt, ho vặt, đệm lót ướt và có mùi khai nồng. Kéo dài sẽ dẫn tới viêm kết mạc và bệnh hô hấp.
Dấu hiệu thiếu thông thoáng
Trần và tường đọng hơi nước, đệm lót đóng bánh, đàn nằm ì, tăng trọng chậm dù ăn đủ.
Nguyên tắc mùa lạnh
Vẫn phải thông thoáng, chỉ giảm lưu lượng chứ không đóng kín. Đưa gió vào từ trên cao để không khí lạnh kịp hòa trộn trước khi xuống tới đàn.
Chuyển cám giữa các giai đoạn
- Chuyển dần trong 3 – 5 ngày, trộn tăng dần tỷ lệ cám mới: ngày 1 khoảng 25%, ngày 3 khoảng 50–75%, ngày 5 thay hoàn toàn.
- Không chuyển cám cùng lúc với làm vaccine, cắt mỏ, chuyển chuồng hay thời tiết đổi đột ngột.
- Sau khi chuyển cám, theo dõi phân trong 2–3 ngày. Phân sống hoặc nhão bất thường là dấu hiệu ruột chưa thích nghi kịp.
Riêng gà thả vườn: quản lý sân chơi
- Thả ra sân sau 4–5 tuần tuổi, bắt đầu từ vài giờ mỗi ngày rồi tăng dần.
- Sân chơi cần thoát nước tốt; vũng nước đọng là nơi tích tụ mầm bệnh và ký sinh trùng.
- Luân phiên khu vực chăn thả nếu có điều kiện, để đất được nghỉ và phơi nắng.
- Rào chắn và lưới che phía trên nếu vùng có chim hoang, vừa chống thất thoát vừa giảm nguy cơ mang mầm bệnh từ chim trời.
Riêng ngỗng: chăn thả và tận dụng thức ăn thô xanh
Ngỗng là loài ăn cỏ tốt nhất trong nhóm gia cầm, có thể lấy một phần đáng kể khẩu phần từ cỏ và rau xanh. Đây vừa là lợi thế về giá thành, vừa là điều kiện bắt buộc: nếu không có nguồn thô xanh ổn định thì nuôi ngỗng bằng cám hoàn toàn thường không có lãi vì ngỗng ăn nhiều và lớn chậm hơn vịt.
- Bãi chăn 20 – 30 m² mỗi con với cỏ mềm, thoát nước tốt. Luân phiên khu chăn để cỏ kịp mọc lại và đất được phơi nắng.
- Ba tuần đầu vẫn nuôi bằng cám đủ đạm. Cho ăn cỏ quá sớm khiến ngỗng con chậm lớn và còi kéo dài cả lứa.
- Tập ăn cỏ từ tuần thứ 3, băm nhỏ và trộn cùng cám, tăng dần tỷ lệ theo tuổi.
- Ba tuần cuối vỗ béo bằng ngô và cám, giảm chăn thả để tăng khối lượng và chất lượng thịt.
- Cần nước để rỉa lông và làm mát, nhưng nền khu vực nước phải cứng và thoát nước tốt, dọn hằng tuần.
- Ngỗng rất nhạy với người lạ và hay kêu to; đây là ưu điểm để canh đàn nhưng cũng dễ gây stress nếu khu nuôi có nhiều người qua lại.
Riêng thủy cầm: nuôi khô hay nuôi nước
Nuôi khô trên đệm lót
Kiểm soát dịch bệnh tốt hơn, ít phụ thuộc nguồn nước, phân thu gom được để bán. Đổi lại phải quản lý đệm lót chặt và tốn trấu.
Nuôi có ao hồ
Đàn thoải mái, giảm chi phí trấu, tận dụng được thức ăn tự nhiên. Rủi ro là nước ao dễ thành nguồn lây bệnh nếu không thay và xử lý định kỳ.
Cách làm dung hòa
Nuôi khô trong chuồng, chỉ mở khu vực nước có nền cứng, thoát nước tốt vào ban ngày; dọn và sát trùng khu vực này hằng tuần.
Vỗ béo và chuẩn bị xuất bán
Ba tuần cuối quyết định khối lượng, chất lượng thịt và cả mức độ an toàn thực phẩm của lứa nuôi.
Nguyên tắc chung
- Tuân thủ thời gian ngừng thuốc. Mỗi loại thuốc có thời gian ngừng riêng ghi trên nhãn, có loại chỉ vài ngày nhưng có loại tới 28 ngày trước khi giết mổ. Phải đọc nhãn của đúng sản phẩm đang dùng. Đây là yêu cầu bắt buộc, không phải khuyến nghị.
- Không đổi khẩu phần đột ngột trong 2–3 tuần cuối, nhất là với gà ta và ngan vì màu da và chất lượng thịt bị ảnh hưởng.
- Giảm mật độ nếu đàn quá dày bằng cách bán tỉa con đạt khối lượng trước, vừa giảm rủi ro vừa tăng độ đồng đều của phần còn lại.
- Giữ chuồng mát và thông thoáng. Cuối lứa khối lượng lớn nên đàn sinh nhiệt nhiều, dễ chết do stress nhiệt trong ngày nắng.
Vỗ béo thủy cầm
Ngan và ngỗng vỗ béo tốt bằng ngô kết hợp cám ở 3 tuần cuối. Trước đó nên tận dụng thức ăn thô xanh để hạ giá thành, nhưng phải bảo đảm đủ đạm ở giai đoạn đầu, nếu không đàn chậm lớn và thời gian nuôi kéo dài, phần tiết kiệm được không bù nổi chi phí tăng thêm.
Ngày bắt bán
- Cắt cám trước khi bắt 6–8 giờ, vẫn cho uống nước bình thường. Cắt quá sớm làm hao khối lượng, cắt quá muộn làm bẩn khi vận chuyển và tăng tỷ lệ loại thải.
- Bắt vào lúc trời mát, tốt nhất là sáng sớm hoặc chiều tối; giảm ánh sáng để đàn yên tĩnh.
- Bắt hai chân, không bắt một chân hay bắt cánh để tránh gãy xương và bầm ức, hai lỗi bị thương lái trừ tiền nhiều nhất.
- Ghi lại số liệu cuối lứa: tổng số con bán, tổng khối lượng, tổng cám đã dùng, số con chết. Không có bốn số này thì không tính được giá thành thật của lứa.
Thức ăn và dinh dưỡng
Thức ăn thường chiếm 60–75% tổng chi phí một lứa, nên đây là khoản có tác động lớn nhất tới giá thành. Nhưng cắt giảm sai chỗ lại làm tăng giá thành vì đàn chậm lớn.
Nhu cầu dinh dưỡng theo giai đoạn
Bảng dưới là khoảng tham khảo phổ biến. Gà thịt công nghiệp và vịt siêu thịt nuôi ngắn ngày lấy mức cao của khoảng; gà ta, vịt cỏ nuôi dài ngày lấy mức thấp hơn. Khi mua cám công nghiệp, hãy so theo đạm và năng lượng trao đổi ghi trên bao chứ không so theo giá mỗi bao.
| Giai đoạn | Đạm thô | Năng lượng trao đổi | Ghi chú |
|---|---|---|---|
| Gà · úm 0–3 tuần | 20 – 22% | 2.900 – 3.000 kcal/kg | Cám mảnh hoặc viên nhỏ, dễ tiêu |
| Gà · phát triển | 18 – 20% | 3.000 – 3.100 kcal/kg | Giai đoạn ăn nhiều nhất |
| Gà · vỗ béo | 16 – 18% | 3.100 – 3.200 kcal/kg | Tăng năng lượng, giảm đạm |
| Ngan · 0–3 tuần | 20 – 22% | 2.850 – 2.950 kcal/kg | Thiếu đạm giai đoạn này làm ngan chậm lớn kéo dài cả lứa |
| Ngan · sau 3 tuần | 17 – 19% | 2.900 – 3.050 kcal/kg | Có thể phối thêm ngô, cám gạo |
| Vịt · 0–3 tuần | 20 – 22% | 2.850 – 2.950 kcal/kg | Vịt tăng trọng rất nhanh 3 tuần đầu, không nên ép cám |
| Vịt · sau 3 tuần | 16 – 18% | 2.900 – 3.050 kcal/kg | Tận dụng được thóc, ngô, rau xanh và phụ phẩm |
| Ngỗng · 0–3 tuần | 20 – 22% | 2.800 – 2.900 kcal/kg | Ba tuần đầu vẫn cần cám đủ đạm, chưa nên cho ăn cỏ hoàn toàn |
| Ngỗng · sau 3 tuần | 15 – 17% | 2.800 – 2.950 kcal/kg | Giai đoạn tận dụng cỏ và rau xanh nhiều nhất; ba tuần cuối vỗ béo bằng ngô và cám |
Giảm thất thoát thức ăn
Chỉ đổ đầy một phần ba máng
Máng đầy làm rơi vãi nhiều. Cho ăn ít một, nhiều lần trong ngày vừa giảm rơi vãi vừa kích thích đàn ăn.
Chỉnh độ cao máng theo lưng đàn
Mép máng ngang lưng con vật là vừa. Máng thấp quá thì đàn bới ra ngoài, cao quá thì con nhỏ không với tới và đàn mất đồng đều.
Bảo quản cám đúng cách
Kê cám lên kệ cách nền và cách tường, kho khô thoáng, dùng theo thứ tự nhập trước xuất trước. Cám ẩm mốc sinh độc tố nấm, gây thiệt hại âm thầm mà khó nhận ra.
Nước uống
Nước là thứ đàn tiêu thụ nhiều nhất và cũng là thứ ít được kiểm tra nhất. Lượng nước uống giảm là dấu hiệu sớm nhất báo đàn có vấn đề, thường xuất hiện trước khi thấy con ốm.
- Nước uống phải sạch như nước cho người. Nước giếng khoan nhiễm phèn hoặc nhiễm khuẩn cần xử lý trước khi dùng.
- Theo dõi lượng nước hằng ngày. Ghi số lít mỗi ngày; đàn khỏe thì lượng nước tăng đều theo tuổi. Giảm đột ngột nghĩa là có vấn đề, tăng bất thường thường là do nóng hoặc do bệnh đường ruột.
- Vệ sinh đường ống và núm uống định kỳ. Màng sinh học bám trong ống là nơi trú của vi khuẩn và làm giảm hiệu quả thuốc pha qua nước.
- Pha thuốc hoặc vaccine qua nước thì phải dùng hết trong 2–3 giờ, không pha để cả ngày.
- Thủy cầm cần lượng nước lớn hơn gà nhiều lần và cần độ sâu đủ để nhúng cả mỏ, nếu không sẽ bị tắc lỗ mũi và viêm mắt.
Lịch vaccine tham khảo
Khung lịch cho gà
| Ngày tuổi | Phòng bệnh | Đường đưa thường dùng | Ghi chú |
|---|---|---|---|
| 1 ngày | Marek | Tiêm dưới da cổ | Thường đã làm tại lò ấp, cần hỏi rõ khi nhận giống |
| 3 – 5 ngày | Newcastle kết hợp viêm phế quản truyền nhiễm | Nhỏ mắt hoặc nhỏ mũi | Làm lúc trời mát, thao tác nhanh và nhẹ |
| 7 – 10 ngày | Gumboro lần 1 | Nhỏ miệng hoặc cho uống | Thời điểm phụ thuộc mức kháng thể từ gà mẹ và chủng vaccine |
| 10 – 12 ngày | Đậu gà | Chủng màng cánh | Chủ yếu cho gà nuôi dài ngày và gà thả vườn |
| 14 – 17 ngày | Gumboro lần 2 | Cho uống | Nhắc lại theo hướng dẫn của hãng |
| 15 – 21 ngày | Newcastle lần 2 | Nhỏ mắt hoặc cho uống | Có nơi kết hợp chung với viêm phế quản |
| 21 ngày | Cúm gia cầm | Tiêm dưới da hoặc tiêm bắp | Theo quy định và hướng dẫn của cơ quan thú y địa phương |
| 28 – 35 ngày | Tụ huyết trùng | Tiêm dưới da | Cho gà nuôi dài ngày, vùng có tiền sử bệnh |
| 40 – 45 ngày | Newcastle nhắc lại | Tiêm hoặc cho uống | Với gà thả vườn, gà ta nuôi trên 3 tháng |
Khung lịch cho vịt
| Ngày tuổi | Phòng bệnh | Đường đưa thường dùng | Ghi chú |
|---|---|---|---|
| 1 – 3 ngày | Viêm gan virus vịt | Tiêm dưới da | Quan trọng ở vùng đã từng có dịch; nơi khác có thể dựa vào kháng thể từ vịt mẹ |
| 7 – 15 ngày | Dịch tả vịt lần 1 | Tiêm dưới da hoặc tiêm bắp | Bệnh do virus, không có thuốc đặc trị nên phòng là chính |
| 14 – 21 ngày | Cúm gia cầm | Tiêm dưới da | Theo hướng dẫn của cơ quan thú y địa phương |
| 21 – 28 ngày | Dịch tả vịt lần 2 | Tiêm | Nhắc lại theo hướng dẫn của hãng vaccine |
| 28 – 35 ngày | Tụ huyết trùng | Tiêm dưới da | Vùng có tiền sử bệnh, nhất là khi chăn thả |
Khung lịch cho ngan và ngỗng
| Ngày tuổi | Phòng bệnh | Đường đưa thường dùng | Ghi chú |
|---|---|---|---|
| 1 – 3 ngày | Bệnh Derzsy do parvovirus | Tiêm dưới da | Bệnh chung của ngan và ngỗng, gây chết cao ở đàn nhỏ ngày |
| 7 – 15 ngày | Dịch tả vịt | Tiêm | Ngan và ngỗng đều mắc dịch tả vịt nên cần phòng |
| 14 – 21 ngày | Cúm gia cầm | Tiêm dưới da | Theo hướng dẫn của cơ quan thú y địa phương |
| 21 – 28 ngày | Dịch tả vịt nhắc lại | Tiêm | Theo hướng dẫn của hãng vaccine |
| 28 – 35 ngày | Tụ huyết trùng | Tiêm dưới da | Vùng có tiền sử bệnh |
Làm vaccine đúng cách
- Bảo quản lạnh liên tục từ lúc mua đến lúc dùng, thường 2–8°C. Vaccine để ngoài nắng hoặc trong cốp xe nóng coi như đã hỏng dù nhìn bề ngoài vẫn bình thường.
- Chỉ làm cho đàn khỏe. Đàn đang ốm thì hoãn lại, làm vaccine lúc này vừa không tạo được miễn dịch vừa làm bệnh nặng thêm.
- Pha xong dùng trong 2 giờ, giữ mát trong quá trình làm, không để lọ đã pha ngoài nắng.
- Cho uống thì cắt nước trước 1–2 giờ để đàn khát và uống hết nhanh; không pha vaccine vào nước có chất sát trùng hay clo.
- Làm lúc trời mát, thao tác nhẹ nhàng, hạn chế bắt giữ lâu gây stress.
- Ghi sổ ngày làm, loại vaccine, số lô và hạn dùng. Khi đàn có vấn đề, cuốn sổ này là căn cứ đầu tiên để truy nguyên.
An toàn sinh học
Đây là khoản đầu tư rẻ nhất trong chăn nuôi và cũng bị xem nhẹ nhiều nhất. Nguyên tắc gốc rất đơn giản: giữ mầm bệnh ở ngoài, và nếu đã vào thì không cho lan rộng.
Mười việc cần làm
- Một lứa tuổi trong một khu. Nuôi nhiều lứa tuổi cùng khu là cách chắc chắn nhất để bệnh tồn tại vĩnh viễn trong trại.
- Vào cùng lúc, ra cùng lúc. Sau khi bán hết mới dọn, sát trùng và để trống chuồng đủ ngày.
- Hạn chế người lạ vào khu chuồng. Thương lái và người bán cám dừng ở vùng ngoài; xe bắt gà không vào sân chuồng.
- Ủng và quần áo riêng cho mỗi khu chuồng, để tại chỗ, không mặc ra ngoài.
- Hố sát trùng ở cổng và trước cửa mỗi chuồng, thay dung dịch định kỳ vì hố bẩn thì không còn tác dụng.
- Kiểm soát chuột, chim hoang và côn trùng. Chim trời là nguồn mang cúm gia cầm; chuột mang thương hàn và nhiều mầm bệnh khác.
- Không nuôi lẫn gà với thủy cầm trong cùng khu, đặc biệt ở vùng có nguy cơ cúm gia cầm.
- Xử lý xác chết đúng cách. Chôn có vôi hoặc đốt, không vứt ra ao, kênh mương hay bán chạy.
- Cách ly ngay đàn có dấu hiệu bất thường, chăm sóc đàn ốm sau cùng trong ngày rồi mới thay đồ.
- Ghi chép hằng ngày: số con chết, lượng ăn, lượng nước, thuốc và vaccine đã dùng. Không có sổ thì không truy được nguyên nhân khi có sự cố.
Thư viện 23 bệnh và rối loạn thường gặp
Bấm vào từng bệnh để xem dấu hiệu, cách phân biệt với bệnh dễ nhầm, cách phòng và hướng xử lý. Nội dung phục vụ nhận biết sớm tại chuồng, không thay thế chẩn đoán của cán bộ thú y.
Nhóm bệnh do virus
Newcastle (bệnh gà rù, dịch tả gà) Virus · gà · lây rất nhanh, tỷ lệ chết cao
- Dấu hiệu
- Ủ rũ, bỏ ăn, khó thở và há mỏ, phân xanh lẫn trắng, diều căng đầy hơi và nước. Giai đoạn sau xuất hiện triệu chứng thần kinh: vẹo cổ, ngoẹo đầu ra sau, đi giật lùi, liệt chân cánh.
- Bệnh tích khi mổ
- Xuất huyết ở dạ dày tuyến tại chỗ tiếp giáp với mề, xuất huyết ruột và hạch manh tràng, khí quản xuất huyết.
- Dễ nhầm với
- Cúm gia cầm và viêm phế quản truyền nhiễm ở giai đoạn đầu. Triệu chứng thần kinh xuất hiện muộn là dấu hiệu gợi ý Newcastle.
- Phòng
- Làm vaccine đủ liều đúng lịch, nhắc lại với đàn nuôi dài ngày; giữ an toàn sinh học chặt.
- Hướng xử lý
- Không có thuốc đặc trị. Cách ly ngay, báo cán bộ thú y, hạ nhiệt chuồng và giảm stress, dùng thuốc bổ trợ và điện giải. Kháng sinh chỉ để chống bội nhiễm khi có chỉ định.
Gumboro (viêm túi huyệt truyền nhiễm) Virus · gà 3–6 tuần tuổi · phá hủy miễn dịch
- Dấu hiệu
- Đàn đang khỏe bỗng ủ rũ hàng loạt, tụm lại, tự mổ vào vùng hậu môn, tiêu chảy phân trắng loãng. Chết tập trung trong 3–5 ngày rồi giảm nhanh.
- Bệnh tích khi mổ
- Túi Fabricius sưng to rồi teo, có dịch nhầy hoặc xuất huyết; xuất huyết cơ đùi và cơ ức thành vệt.
- Hậu quả kéo dài
- Đàn qua khỏi vẫn bị suy giảm miễn dịch, đáp ứng vaccine kém và dễ mắc bệnh khác trong nhiều tuần sau.
- Phòng
- Vaccine đúng thời điểm theo mức kháng thể từ gà mẹ; sát trùng chuồng kỹ vì virus rất bền trong môi trường.
- Hướng xử lý
- Không có thuốc đặc trị. Hạ mật độ, tăng thông thoáng, bù nước và điện giải, giảm đạm khẩu phần vài ngày; chống bội nhiễm theo chỉ định thú y.
Cúm gia cầm Virus · gà, ngan, vịt, ngỗng · bệnh phải khai báo, có thể lây sang người
- Dấu hiệu
- Chết đột ngột nhiều con trong thời gian ngắn, có khi chưa kịp thấy triệu chứng. Mào và tích tím tái, phù đầu, xuất huyết da chân, khó thở, tiêu chảy, giảm ăn mạnh. Ở vịt và ngan có thể mang mầm mà biểu hiện nhẹ hơn.
- Phòng
- Vaccine theo hướng dẫn cơ quan thú y, không nuôi lẫn gà với thủy cầm, ngăn chim hoang, kiểm soát người và xe ra vào.
- Hướng xử lý
- Báo ngay cơ quan thú y hoặc chính quyền địa phương. Không bán chạy, không giết mổ, không vứt xác ra môi trường. Người tiếp xúc phải mang khẩu trang và găng tay, rửa tay kỹ. Việc tiêu hủy và khử trùng thực hiện theo hướng dẫn của cơ quan chức năng.
Viêm phế quản truyền nhiễm (IB) Virus · gà · bệnh hô hấp lây nhanh
- Dấu hiệu
- Ho, hắt hơi, khò khè, chảy nước mũi và nước mắt, đàn tụm lại. Tỷ lệ chết ở gà thịt thường không cao nhưng làm chậm lớn và mở đường cho vi khuẩn kế phát.
- Dễ nhầm với
- Newcastle thể nhẹ và bệnh hen do Mycoplasma. IB lây rất nhanh, gần như cả đàn có triệu chứng trong 1–2 ngày.
- Phòng
- Vaccine phối hợp với Newcastle theo lịch; giữ chuồng thông thoáng, tránh chênh nhiệt đột ngột.
- Hướng xử lý
- Không có thuốc đặc trị. Tăng thông thoáng, giữ ấm về đêm, bổ sung vitamin; chống bội nhiễm theo chỉ định thú y.
Marek Virus · gà nuôi dài ngày · gây liệt và khối u
- Dấu hiệu
- Thường xuất hiện từ 8–12 tuần tuổi, thể cấp có thể sớm hơn: liệt một chân duỗi về trước, chân kia duỗi về sau, cánh xệ, gầy dần dù vẫn ăn. Có con mắt biến màu, đồng tử méo.
- Bệnh tích khi mổ
- Dây thần kinh hông sưng to mất vân, khối u ở gan, lách, thận, buồng trứng.
- Phòng
- Vaccine ngay tại lò ấp lúc 1 ngày tuổi. Khi nhận giống cần hỏi rõ đã làm Marek chưa.
- Hướng xử lý
- Không có thuốc điều trị. Loại thải con bệnh, tăng cường vệ sinh; đàn sau phải bảo đảm được tiêm vaccine tại lò.
Đậu gà Virus · gà thả vườn · lây qua muỗi và vết thương
- Dấu hiệu
- Thể ngoài da: nốt sần màu xám rồi đóng vảy nâu ở mào, tích, quanh mắt, chân. Thể trong: màng giả trắng ở miệng và họng làm khó thở, khó ăn, thể này nguy hiểm hơn.
- Phòng
- Chủng vaccine màng cánh cho gà nuôi dài ngày; diệt muỗi, phát quang bụi rậm quanh chuồng.
- Hướng xử lý
- Không có thuốc đặc trị. Bóc vảy và bôi sát trùng nhẹ với thể ngoài da, bổ sung vitamin A và thuốc bổ; chống bội nhiễm theo chỉ định.
Dịch tả vịt Virus · vịt, ngan, ngỗng · tỷ lệ chết rất cao
- Dấu hiệu
- Sốt cao, bỏ ăn, khát nước, sợ ánh sáng, chảy nước mắt và nước mũi, sưng mí mắt. Đi lại khó khăn, liệt chân, tiêu chảy phân xanh. Con trống có thể sa dương vật.
- Bệnh tích khi mổ
- Xuất huyết và loét ở thực quản, ruột và hậu môn; gan có điểm hoại tử trắng.
- Phòng
- Vaccine dịch tả vịt đúng lịch và nhắc lại; không thả chung với đàn lạ, kiểm soát nguồn nước.
- Hướng xử lý
- Không có thuốc đặc trị. Cách ly, báo thú y, tiêm vaccine bao vây cho đàn chưa mắc theo hướng dẫn thú y, bổ sung thuốc bổ và điện giải.
Viêm gan virus vịt Virus · vịt con dưới 3 tuần · chết rất nhanh
- Dấu hiệu
- Vịt con đang khỏe bỗng nằm nghiêng, hai chân đạp co giật rồi chết chỉ trong vài giờ. Tư thế chết đặc trưng là đầu ngoẹo ra sau lưng. Tỷ lệ chết có thể rất cao ở đàn dưới 2 tuần tuổi.
- Bệnh tích khi mổ
- Gan sưng to, nhạt màu, xuất huyết lấm tấm hoặc thành đám trên bề mặt gan.
- Phòng
- Vaccine cho vịt con lúc 1–3 ngày tuổi ở vùng có dịch, hoặc dựa vào kháng thể từ vịt mẹ đã được tiêm phòng.
- Hướng xử lý
- Không có thuốc đặc trị. Có thể dùng kháng thể theo chỉ định thú y ở giai đoạn sớm; giữ ấm, giảm stress, bổ sung thuốc bổ gan và điện giải.
Bệnh Derzsy (parvovirus ở ngan, ngỗng) Virus · ngan và ngỗng nhỏ ngày · thiệt hại lớn
- Dấu hiệu
- Ngan con dưới 4 tuần bỏ ăn, ủ rũ, tiêu chảy phân trắng hoặc vàng, chảy nước mũi, sưng mí mắt. Con sống sót còi cọc, lông xơ xác và chậm lớn kéo dài.
- Phòng
- Tiêm vaccine cho ngan con lúc 1–3 ngày tuổi, hoặc dùng đàn bố mẹ đã được tiêm để truyền kháng thể. Không nuôi lẫn nhiều lứa tuổi thủy cầm trong cùng khu.
- Hướng xử lý
- Không có thuốc đặc trị. Cách ly, giữ ấm, bổ sung điện giải và vitamin; chống bội nhiễm theo chỉ định thú y.
Nhóm bệnh do vi khuẩn
Hen gà, bệnh đường hô hấp mạn tính (CRD) Vi khuẩn Mycoplasma · gà · dai dẳng, hay tái phát
- Dấu hiệu
- Khò khè rõ nhất về đêm khi chuồng yên tĩnh, hắt hơi, chảy nước mũi, sưng mặt một bên, giảm ăn và chậm lớn. Bệnh kéo dài âm ỉ chứ ít khi gây chết ồ ạt.
- Yếu tố làm bệnh nặng thêm
- Khí NH₃ cao do đệm lót ướt, mật độ dày, thông thoáng kém, chênh nhiệt ngày đêm lớn.
- Phòng
- Giữ đệm lót khô và chuồng thông thoáng, mua giống từ đàn bố mẹ sạch bệnh, giảm mật độ nuôi.
- Hướng xử lý
- Điều trị bằng kháng sinh theo chỉ định thú y, song song với việc sửa điều kiện chuồng nuôi. Nếu chỉ dùng thuốc mà không xử lý khí chuồng và đệm lót thì bệnh sẽ tái đi tái lại.
Bệnh do E.coli Vi khuẩn · gà, ngan, vịt, ngỗng · thường là bệnh kế phát
- Dấu hiệu
- Ủ rũ, xù lông, tiêu chảy phân vàng hoặc xanh, chậm lớn, chết rải rác kéo dài. Ở con non có thể viêm rốn, viêm túi lòng đỏ.
- Bệnh tích khi mổ
- Màng bao tim, bao gan phủ lớp fibrin trắng đục; túi khí dày đục.
- Nguyên nhân gốc
- Hầu như luôn đi sau một vấn đề khác: nước uống bẩn, đệm lót ướt, khí chuồng kém, hoặc sau một bệnh virus. Chữa E.coli mà không sửa nguyên nhân gốc thì sẽ tái phát.
- Phòng
- Nước uống sạch, vệ sinh đường ống, đệm lót khô, mật độ hợp lý, sát trùng trứng và máy ấp với trại giống.
- Hướng xử lý
- Kháng sinh theo chỉ định thú y, tốt nhất dựa trên kết quả kháng sinh đồ vì E.coli kháng thuốc rất phổ biến. Tuân thủ thời gian ngừng thuốc.
Tụ huyết trùng Vi khuẩn Pasteurella · gà, ngan, vịt, ngỗng · chết nhanh, hay gặp khi giao mùa
- Dấu hiệu
- Thể cấp tính: con béo khỏe chết đột ngột, mào tím, mũi chảy dịch nhớt, phân trắng loãng. Thể mạn tính: sưng khớp, què, sưng tích ở gà.
- Bệnh tích khi mổ
- Gan có nhiều điểm hoại tử trắng nhỏ bằng đầu đinh ghim; xuất huyết mỡ vành tim và cơ tim.
- Phòng
- Vaccine ở vùng có tiền sử bệnh, nhất là đàn nuôi dài ngày và đàn chăn thả; giữ chuồng khô, tránh thay đổi thời tiết đột ngột.
- Hướng xử lý
- Đáp ứng với kháng sinh nếu phát hiện sớm, dùng theo chỉ định thú y. Đồng thời cách ly con ốm và sát trùng chuồng.
Thương hàn và bạch lỵ (Salmonella) Vi khuẩn · gà · truyền qua trứng từ đàn bố mẹ
- Dấu hiệu
- Gà con: tiêu chảy phân trắng như vôi dính bết quanh hậu môn, ủ rũ, tụm lại, chết trong 1–2 tuần đầu. Gà lớn: gầy, chậm lớn, chết rải rác.
- Bệnh tích khi mổ
- Gan sưng có điểm hoại tử, lách sưng; túi lòng đỏ không tiêu ở gà con.
- Phòng
- Mua giống từ cơ sở kiểm soát được bệnh này ở đàn bố mẹ, sát trùng máy ấp và trứng, diệt chuột vì chuột là nguồn lây quan trọng.
- Hướng xử lý
- Kháng sinh theo chỉ định thú y; loại thải con còi. Lưu ý đây là nhóm vi khuẩn có ý nghĩa với an toàn thực phẩm nên phải tuân thủ nghiêm thời gian ngừng thuốc.
Sổ mũi truyền nhiễm (Coryza) Vi khuẩn · gà · sưng mặt đặc trưng
- Dấu hiệu
- Sưng phù mặt và quanh mắt, chảy nước mũi đặc có mùi hôi khó chịu, mắt nhắm nghiền, giảm ăn rõ. Lây nhanh trong đàn.
- Dễ nhầm với
- Hen do Mycoplasma. Điểm phân biệt là dịch mũi đặc có mùi hôi và mặt sưng rõ ở Coryza.
- Phòng
- Vaccine ở vùng hay xảy ra bệnh, nhất là với gà nuôi dài ngày; không nuôi lẫn lứa tuổi.
- Hướng xử lý
- Đáp ứng tốt với kháng sinh theo chỉ định thú y nếu điều trị sớm; kết hợp cải thiện thông thoáng và giảm bụi.
Viêm ruột hoại tử Vi khuẩn Clostridium · gà · thường đi sau cầu trùng
- Dấu hiệu
- Chết đột ngột ở những con lớn khỏe trong đàn, phân sẫm màu như bùn có mùi rất hôi, đàn giảm ăn.
- Bệnh tích khi mổ
- Ruột non giãn mỏng, niêm mạc phủ lớp màng hoại tử màu vàng nâu như khăn lau.
- Yếu tố thuận lợi
- Sau khi mắc cầu trùng, thay đổi khẩu phần đột ngột, khẩu phần nhiều đạm động vật hoặc lúa mì.
- Phòng
- Kiểm soát cầu trùng, chuyển cám từ từ, giữ đệm lót khô, bổ sung men vi sinh theo hướng dẫn.
- Hướng xử lý
- Kháng sinh theo chỉ định thú y, đồng thời xử lý cầu trùng nếu có và rà lại khẩu phần.
Bại huyết ở vịt, ngan, ngỗng (Riemerella anatipestifer) Vi khuẩn · vịt, ngan, ngỗng 2–7 tuần · rất phổ biến
- Dấu hiệu
- Ủ rũ, chảy nước mắt nước mũi, ngoẹo cổ, run đầu, đi loạng choạng hoặc bơi xoay vòng, tiêu chảy phân xanh. Chết rải rác kéo dài nhiều ngày.
- Bệnh tích khi mổ
- Màng bao tim, bao gan và túi khí phủ fibrin trắng; viêm màng não ở con có triệu chứng thần kinh.
- Yếu tố thuận lợi
- Đệm lót ướt, nền chuồng bẩn, mật độ dày, thời tiết ẩm lạnh.
- Phòng
- Giữ chuồng khô ráo là biện pháp quan trọng nhất; giảm mật độ, sát trùng định kỳ, tránh để vịt ngan lội nước bẩn.
- Hướng xử lý
- Kháng sinh theo chỉ định thú y, nên dựa trên kháng sinh đồ vì vi khuẩn này kháng thuốc khá nhanh; xử lý song song điều kiện chuồng trại.
Nhóm ký sinh trùng, nấm và rối loạn dinh dưỡng
Cầu trùng Ký sinh trùng · gà 3–8 tuần · phân có máu
- Dấu hiệu
- Phân sáp nâu hoặc lẫn máu tươi, gà ủ rũ, xù lông, mào nhợt, giảm ăn, chậm lớn rõ rệt. Đàn không đồng đều.
- Bệnh tích khi mổ
- Manh tràng căng chứa máu, hoặc ruột non dày lên có chấm xuất huyết tùy loại cầu trùng.
- Yếu tố thuận lợi
- Đệm lót ẩm là điều kiện để noãn nang phát triển. Bệnh gần như luôn đi kèm với đệm lót ướt.
- Phòng
- Giữ đệm lót khô, đảo và thay khu vực ướt; dùng thuốc phòng hoặc vaccine cầu trùng theo hướng dẫn thú y với đàn nuôi dài ngày.
- Hướng xử lý
- Thuốc đặc trị cầu trùng theo chỉ định thú y, kết hợp bổ sung vitamin K và chất điện giải; xử lý đệm lót ngay, nếu không sẽ tái nhiễm.
Nấm phổi (Aspergillus) Nấm · gà, ngan, vịt, ngỗng con · từ đệm lót và thức ăn mốc
- Dấu hiệu
- Con non thở khó, há mỏ, vươn cổ để thở nhưng không có tiếng khò khè, ủ rũ, khát nước, chết rải rác. Bệnh không lây từ con này sang con khác mà cả đàn cùng hít phải bào tử.
- Bệnh tích khi mổ
- Các hạt màu vàng trắng như hạt kê ở phổi và túi khí.
- Phòng
- Không dùng trấu và thức ăn bị mốc, kho chứa khô thoáng, không để đệm lót ẩm lâu ngày, sát trùng chuồng trước khi vào giống.
- Hướng xử lý
- Kháng sinh thông thường không có tác dụng với nấm. Cần loại bỏ ngay nguồn đệm lót hoặc thức ăn mốc, tăng thông thoáng và hỏi ý kiến thú y về thuốc chống nấm.
Giun sán đường ruột Ký sinh trùng · gà thả vườn, thủy cầm chăn thả · làm chậm lớn âm thầm
- Dấu hiệu
- Đàn ăn bình thường hoặc ăn nhiều nhưng chậm lớn, gầy, lông xù, mào nhợt, phân lỏng đôi khi lẫn máu. Đàn không đồng đều dù cùng chế độ nuôi. Nặng có thể thấy giun trong phân.
- Bệnh tích khi mổ
- Giun đũa trắng dài trong ruột non, hoặc sán dây dạng đốt dẹt. Niêm mạc ruột dày, viêm.
- Vì sao hay bị bỏ qua
- Không gây chết ồ ạt nên người nuôi ít để ý, nhưng làm tăng hệ số chuyển hóa thức ăn và kéo dài thời gian nuôi, thiệt hại tính ra tiền không nhỏ.
- Phòng
- Tẩy giun định kỳ theo hướng dẫn thú y với đàn nuôi dài ngày và đàn chăn thả, thường bắt đầu từ 4–6 tuần tuổi và nhắc lại theo chu kỳ. Giữ nền chuồng khô, dọn phân thường xuyên, luân phiên bãi chăn.
- Hướng xử lý
- Dùng thuốc tẩy giun sán theo chỉ định thú y, sau khi tẩy phải dọn sạch phân trong 2–3 ngày để tránh tái nhiễm. Tuân thủ thời gian ngừng thuốc trước khi bán.
Mạt, rận và ve ngoài da Ngoại ký sinh · gà thả vườn nhiều nhất · gây mất ngủ và giảm tăng trọng
- Dấu hiệu
- Đàn bồn chồn về đêm, rỉa lông liên tục, rụng lông quanh hậu môn và dưới cánh, da đỏ có vết cắn. Mào nhợt do mất máu, giảm ăn và chậm lớn. Người vào chuồng có thể bị ngứa.
- Cách kiểm tra
- Ban đêm soi đèn kiểm tra khe hở của sàn, chân máng, dưới cánh và quanh hậu môn của vài con. Mạt gà thường trốn trong khe gỗ ban ngày và chỉ ra hút máu ban đêm.
- Phòng
- Vệ sinh và phun sát trùng chuồng giữa hai lứa, chú ý khe kẽ và chân máng. Không để đệm lót ẩm lâu ngày. Hạn chế cho đàn tiếp xúc với chim hoang.
- Hướng xử lý
- Dùng thuốc diệt ngoại ký sinh dành cho gia cầm theo chỉ định thú y, xử lý đồng thời cả đàn và cả chuồng vì diệt trên con vật mà không xử lý khe kẽ thì sẽ tái nhiễm sau vài ngày.
Thiếu vitamin và khoáng chất Dinh dưỡng · mọi đối tượng · hay bị nhầm với bệnh truyền nhiễm
- Dấu hiệu thường gặp
- Thiếu canxi, phốt pho hoặc vitamin D3: chân yếu, đi khập khiễng, xương mềm, ngực vẹo. Thiếu vitamin B1: ngoẹo đầu ra sau, co giật. Thiếu vitamin E và selen: đi loạng choạng, run. Thiếu vitamin A: chảy nước mắt, mắt có mủ trắng, giảm sức đề kháng.
- Phân biệt với bệnh truyền nhiễm
- Triệu chứng thần kinh do thiếu vitamin thường xuất hiện rải rác, không lây lan, đàn vẫn ăn uống và không sốt. Bổ sung vitamin thấy cải thiện rõ trong vài ngày, khác với Marek hay Newcastle.
- Nguyên nhân
- Khẩu phần tự trộn không cân đối, dùng cám để lâu làm vitamin phân hủy, bảo quản cám nơi nóng ẩm, hoặc đàn bị bệnh đường ruột nên hấp thu kém.
- Phòng và xử lý
- Dùng cám còn hạn và bảo quản đúng cách; nếu tự trộn thì phải có premix vitamin khoáng đúng liều. Bổ sung vitamin tổng hợp qua nước uống theo hướng dẫn khi đàn stress hoặc sau khi ốm dậy.
Ngộ độc độc tố nấm mốc Dinh dưỡng · gà, ngan, vịt, ngỗng · thiệt hại âm thầm
- Dấu hiệu
- Giảm ăn không rõ lý do, chậm lớn, đàn không đồng đều, lông xù, mào nhợt, đáp ứng vaccine kém và hay mắc bệnh khác. Không có triệu chứng đặc trưng nên rất dễ bị bỏ qua.
- Bệnh tích khi mổ
- Gan sưng, nhạt màu hoặc vàng, thận sưng.
- Nguyên nhân
- Ngô, cám, khô dầu bảo quản ẩm; bao cám để sát nền hoặc sát tường; dùng nguyên liệu tồn lâu.
- Phòng
- Kê cám lên kệ, kho khô thoáng, nhập trước dùng trước, loại bỏ nguyên liệu có mùi mốc; dùng chất hấp phụ độc tố theo hướng dẫn khi cần.
- Hướng xử lý
- Ngừng ngay lô thức ăn nghi ngờ, thay bằng lô mới, bổ sung thuốc bổ gan và vitamin theo hướng dẫn thú y.
Stress nhiệt Môi trường · gà, ngan, vịt, ngỗng cuối lứa · chết nhiều trong ngày nắng
- Dấu hiệu
- Há mỏ thở gấp, xòe cánh, nằm bẹp, uống nước nhiều, giảm ăn. Nặng thì chết hàng loạt vào giữa trưa và đầu giờ chiều, thường là những con to nhất đàn.
- Phòng
- Giảm mật độ cuối lứa, tăng thông thoáng, phun mái làm mát, bảo đảm nước mát và đủ máng uống, cho ăn vào lúc mát trong ngày.
- Hướng xử lý
- Bổ sung chất điện giải và vitamin C vào nước uống trong đợt nắng nóng; không dồn đàn, không bắt hoặc vận chuyển vào giữa trưa.
Tra cứu nhanh theo triệu chứng
Chọn các dấu hiệu đang thấy trên đàn. Công cụ sẽ gợi ý những bệnh có biểu hiện gần nhất để anh chị khoanh vùng nhanh, sau đó đối chiếu lại với phần mô tả chi tiết ở trên.
Sổ tay theo dõi hằng ngày
Bốn số liệu dưới đây ghi mỗi ngày mất chưa tới hai phút, nhưng là căn cứ duy nhất để biết đàn đang tốt lên hay xấu đi trước khi nhìn thấy con ốm.
Việc cần làm mỗi ngày
- Đi một vòng chuồng lúc sáng sớm khi đàn còn yên: nghe tiếng thở, nhìn phân, nhìn cách đàn phân bố.
- Nhặt hết xác chết và con yếu, ghi số lượng, cách ly con nghi bệnh.
- Kiểm tra máng uống có chảy, có tắc, có làm ướt đệm lót không.
- Kiểm tra nhiệt độ và độ ẩm chuồng ở ba vị trí: đầu, giữa và cuối chuồng.
- Đảo hoặc bổ sung đệm lót ở chỗ ẩm, nhất là quanh máng uống.
Khi nào cần gọi thú y ngay
- Số con chết trong ngày tăng gấp đôi so với ngày trước mà không rõ nguyên nhân.
- Nhiều con chết đột ngột trong khi vẫn béo khỏe, mào tím tái.
- Lượng nước hoặc lượng cám giảm trên 20% so với ngày hôm trước.
- Xuất hiện triệu chứng thần kinh: vẹo cổ, liệt, đi giật lùi, quay vòng.
- Phân có máu hoặc phân đổi màu bất thường trên diện rộng.
Câu hỏi thường gặp
Úm gà bao nhiêu độ là đúng?
Vì sao gà con chết nhiều trong tuần đầu?
Phân biệt bệnh Newcastle với cúm gia cầm thế nào?
Có nên dùng kháng sinh phòng bệnh định kỳ không?
Vì sao vịt và ngan hay bị bệnh hơn khi nuôi trên nền ẩm?
Làm vaccine rồi đàn vẫn mắc bệnh, vì sao?
Nên để trống chuồng bao lâu giữa hai lứa?
Cách nhận biết đệm lót đã cần thay?
Miễn trừ trách nhiệm
- Nội dung mang tính tham khảo kỹ thuật. Cẩm nang được biên soạn từ kinh nghiệm thực tế của trại và tài liệu kỹ thuật phổ biến, phục vụ việc nhận biết và phòng bệnh tại chuồng.
- Không thay thế chẩn đoán và chỉ định của cán bộ thú y. Việc chẩn đoán chính xác cần mổ khám, xét nghiệm và đánh giá trực tiếp tại trại. Mọi phác đồ dùng thuốc phải do người có chuyên môn chỉ định.
- Lịch vaccine là khung tham khảo. Tuổi làm, chủng vaccine và đường đưa khác nhau giữa các hãng và các vùng dịch tễ; phải theo hướng dẫn của nhà sản xuất và cơ quan thú y địa phương.
- Tuân thủ quy định về thuốc thú y. Không tự ý dùng kháng sinh phòng bệnh định kỳ, luôn tuân thủ thời gian ngừng thuốc trước khi giết mổ để bảo đảm an toàn thực phẩm.
- Bệnh phải khai báo. Khi nghi ngờ cúm gia cầm hoặc bệnh truyền nhiễm nguy hiểm khác, phải báo ngay cơ quan thú y hoặc chính quyền địa phương, không giết mổ và không bán chạy đàn bệnh.
- Các thông số là khoảng tham chiếu. Nhiệt độ, mật độ, khẩu phần thay đổi theo dòng giống, mùa vụ, kiểu chuồng và điều kiện từng trại.
- Trại giống Thu Hà không chịu trách nhiệm đối với thiệt hại phát sinh từ việc áp dụng nội dung trang này mà không có tư vấn chuyên môn phù hợp với điều kiện thực tế của trại.