Gà sao

Gà sao

Gà sao hay còn gọi là gà trĩ, trĩ sao (danh pháp hai phần: Numida meleagris) là loài chim thuộc họ Gà Phi (Numididae) và là loài duy nhất của chi Numida. Loài này có nguồn gốc từ châu Phi, chủ yếu ở nam Sahara, hiện đã di thực đến nhiều nơi thuộc Tây Ấn, Brasil, Australia và châu Á.

 

Hình dạng


Gà có lông màu xám đen, có điểm các màu trắng nhạt, thân hình thoi, lưng hơi gù, đuôi cúp, đầu gà không có mào mà thay vào đó là các mấu sừng, các mấu sừng này tăng sinh qua các tuần tuổi, ở giai đoạn trưởng thành mấu sừng cao khoảng 1,5-2 cm. Da mặt và cổ gà sao không có lông, lớp da trần này có màu xanh da trời, dưới cổ có yếm thịt mỏng, chân không có cựa.
 
Ở một ngày tuổi gà sao có bộ lông màu cánh sẻ, có những đường kẻ sọc chạy dài từ đầu đến cuối thân. Mỏ và chân màuhồng, chân có 4 ngón và có 2 hàng vảy. Giai đoạn trưởng thành gà sao có bộ lông màu xám đen, trên phiến lông điểm nhiều những nốt chấm trắng tròn nhỏ. Mào tích của gà Sao màu trắng hồng và có 2 loại: một loại hình lá dẹt áp sát vào cổ, còn một loại hình lá hoa đá rủ xuống.
 
Việc phân biệt trống mái đối với gà sao rất khó khăn. Ở một ngày tuổi phân biệt trống mái qua lỗ huyệt không chính xác như các giống gà bình thường. Đến giai đoạn trưởng thành con trống và con mái cũng hoàn toàn giống nhau. Tuy nhiên, người ta cũng phân biệt được giới tính của gà Sao căn cứ vào sự khác nhau trong tiếng kêu của từng cá thể.
 

Tập tính sống


Gà sao có đặc điểm là bay giỏi như chim, trong hoang dã gà Sao tìm kiếm thức ăn trên mặt đất, chủ yếu là côn trùng và những mẩu thực vật. Thông thường chúng di chuyển theo đàn khoảng 20 con. Về mùa đông, chúng sống từng đôi trống mái trong tổ trước khi nhập đàn vào những tháng ấm năm sau. Gà sao mái có thể đẻ 20-30 trứng và làm ổ đẻ trên mặt đất, sau đó tự ấp trứng. Gà Sao mái nuôi con không giỏi và thường bỏ lạc đàn con khi dẫn con đi vào những đám cỏ cao. Vì vậy trong tự nhiên, gà sao mẹ thường đánh mất 75% đàn con của nó. Trong chăn nuôi tập trung, gà sao vẫn còn giữ lại một số bản năng hoang dã. Chúng nhút nhát, dễ sợ hãi, hay cảnh giác và bay giỏi như chim, khi bay luôn phát ra tiếng kêu khác biệt. Chúng sống ồn ào và hiếm khi ngừng tiếng kêu.
 
Gà sao có tính bầy đàn cao và rất nhạy cảm với những tiếng động như: mưa, gió, sấm, chớp, tiếng cành cây gãy, tiếng rơi vỡ của đồ vật. Đặc biệt gà Sao nuôi nhốt khi còn nhỏ rất sợ bóng tối, những lúc mất điện chúng thường chồng đống lên nhau đến khi có điện gà mới trở lại hoạt động bình thường. Gà sao thuộc loài ưa hoạt động, ban ngày hầu như chúng không ngủ, trừ giai đoạn gà con. Ban đêm, chúng ngủ thành từng bầy. Do quá linh hoạt mà gà Sao rất ít mổ cắn nhau. Tuy nhiên chúng lại rất thích mổ những vật lạ. Những sợi dây tải, hay những chiếc que nhỏ trong chuồng, thậm chí cả nền chuồng, tường chuồng. Do vậy thường làm tổn thương đến niêm mạc miệng của chúng.
 
Gà sao bay giỏi như chim. Chúng biết bay từ sáng sớm, 2 tuần tuổi gà Sao đã có thể bay. Chúng có thể bay lên cao cách mặt đất từ 6-12m. Chúng bay rất khoẻ nhất là khi hoảng loạn. Gà sao cũng có nhu cầu tắm nắng, gà thường tập trung tắm nắng vào lúc 9-11h sáng và 3-4 giờ chiều. Khi tắm nắng gà thường bới một hố cát thật sâu rồi rúc mình xuống hố, cọ lông vào cát và nằm phơi dưới nắng.

Sinh dục


Các giống gà khác khi giao phối thường bắt đầu bằng hành vi ghẹ gà mái của con trống, đó chính là sự khoe mẽ. Ngoài ra, chúng còn thể hiện sức mạnh thông qua tiếng gáy dài nhưng ở gà Sao lại không như vậy, chúng không bộc lộ tập tính sinh dục rõ ràng ngay cả người chăn nuôi hàng ngày cũng khó phát hiện thấy. Gà sao mái thì đẻ trứng tập trung, khi đẻ trứng xong không cục tác mà lặng lẽ đi ra khỏi ổ.

 Chỉ tiêu kỹ thuật

 TT

Chỉ tiêu

ĐVT Mức chất lượng
Gà Sao bố mẹ
I. Gia cầm hậu bị    
1. Thời gian nuôi hậu bị, trong khoảng tuần 27 đến 28
2. Tỷ lệ nuôi sống, không thấp hơn % 88
3. Khối lượng sống khi kết thúc hậu bị, trong khoảng kg 1,7 đến 1,9
II. Gia cầm giống (mái sinh sản)    
1. Tuổi đẻ quả trứng đầu tiên, trong khoảng tuần 29 đến 31
2 Sản lượng trứng/mái/chu kỳ (13 tuần đẻ), không thấp hơn quả 55
3 Khối lượng trứng giống, trong khoảng g/quả 43 đến 48
4 Tỷ lệ trứng đủ tiêu chuẩn giống, không thấp hơn % 90
5 Tỷ lệ ấp nở/trứng ấp, không thấp hơn % 82
6 Tỷ lệ chết, loại/tháng, không lớn hơn %  2,5
7 Tiêu tốn thức ăn/10 trứng, không lớn hơn kg 1,9
8 Số lượng gà con/mái/chu kỳ, không thấp hơn con 42
Gà Sao thương phẩm
1. Thời gian nuôi ngày 90
2 Tỷ lệ nuôi sống, không thấp hơn % 94
3 Khối lượng lúc xuất bán, trong khoảng kg 1,4 đến 1,8
4. Tiêu tốn thức ăn/1kg tăng trọng, không lớn hơn kg 2,8

                                                  

Bình chọn: